Bài phú “thầy phán”

Tác giả:

(Tự trào)

Sở có một thầy:
Mặt mũi khôi ngô
Hình dung chững chạc
Quần là ống sớ, áo vận khuy vàng
Khăn lượt vành giây, ô che cán bạc
Bảnh bao lắm mốt, trời nắng, mưa: giầy nọ, giầy kia
Lịch sự đủ vành, mùa rét, nực: mũ này, mũ khác
Ra phết quan thông, quan phán, đua ngón phong lưu
Rập rìu tài tử, giai nhân, điểm mùi đài các
Trong đóm ngoài đuốc, trông ra mầu mỡ riêu cua
Tiếng cả nhà thanh, xét kỹ thân hình pháo xác
Cuối tháng ba mươi, ba mốt, giấy bạc rung rinh
Qua ngày mười một, mười hai, ví tiền rỗng toác
Sổ tiêu tính phác, hy hoay cộng cộng, trừ trừ
Lương tháng thấy vèo, tuyu nguỷu ngơ ngơ, ngác ngác
Ấy cũng bởi vung tay quá trán, mới đâm đầu vương lấy nợ như lông lươn
Mà lại còn quen thói bốc trời, chết đến đít vẫn coi tiền như cỏ rác
Ăn toàn ăn sỏi, khi Hiệp Thành, khi Nguyên Lợi, khi Đông Hưng, khi Nhật Tân
Chơi cũng chơi sành, tối Pa-lát, tối Pa-tê, tối Sán Nhiên, tối Quảng Lạc
Bè bạn những sừ tham, sừ ký, một bọn trai lơ
Nhân tình nào con hát, con đào, cùng phường đĩ rạc
Chức đệ tam chi thư ký, nhà nước cấp bằng
Hàm điển tịch chi hàn lâm, trào đình ban sắc
Tiếng Lang-sa thoắng trơn nước chẩy, những “uẩy” cùng “nông”
Câu Hán tự giốt đặc cán mai, đọc “tộ” hoá “tác”
Giở những giọng văn chương sốc nổi “tam tổ thánh hiền”
Bàn những điều nghĩa khí viển vông “thiên hô bát sát”
Hai buổi đến ung dung ư buồng giấy, sổ to, sổ nhỏ bày liệt, bày la
Mấy giờ ngồi chễm chệ ư ghế mây, mực đỏ, mực đen viết chi, viết chát
Lỡ buổi đi trưa, nhìn trước nhìn sau lấm lét, rụt rè như rắn ráo mồng năm
Lỡ khi lầm lỗi, đứng lên ngồi xuống băn khoăn, ủ rũ như diều hâu tháng chạp
Hễ động lúc luôn tay bận bịu, mặt nặng bằng đá đeo, gắt ỏm mắm tôm, cau cau có có, kêu ca việc này khó, việc nọ dài
Chẳng bù khi khểnh cẳng ngồi rồi, cười ròn như nắc nẻ, tán nhăng phó-mát, cợt cợt, bông bông, bình phẩm xếp kia lành, xếp ấy ác
Truyện nào có ra chuyện, giở dại giở khôn
Đùa nào có ra đùa, nửa nạc nửa mỡ
Vắng mặt chủ nghịch nô như quỷ sứ, tầm váo, tầm vênh
Thấy hút Tây vờ vĩnh khéo ma bùn, nhớn nhơ, nhớn nhác
Chỉ những ước được thưởng mề đay năm bẩy chiếc, sở nguyện thầy cũng khá cao xa
Lòng chỉ mong xơi lên lương bổng bốn năm đồng, hy vọng thầy thật là to tát
Nhiên nhi:
Luống hợm mình thế kia thế khác, lập loè sĩ diện với bà con
Còn đắc chí ta đây kẻ giờ, khinh khỉnh vênh vang cùng xóm mạc
Sự nghiệp có thế thôi, người ngoài cuộc tưởng rằng ghê gớm, chẳng trách nào ai cũng ước ao!
Công danh không mấy hột, kẻ qua cầu mới biết giở giang, dám nhắn nhủ khách đừng khao khát
Nguồn: Tú Mỡ, Giòng nước ngược – Tập I, Trung Bắc Tân Văn, 1934

Thảo luận cho bài: "Bài phú “thầy phán”"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả