Cần kiệm là nguồn bể nhân ái

Tác giả:

Nhân nghĩa là ái,
Ái nghĩa là yêu.
Người biết yêu nhau,
Mình yêu người trước.
Thấy người đói rách,
Mình phải âu lo.
Một mình ấm no,
Dám đâu vui vẻ.
Ở trong bốn bể,
Ai cũng anh em.
Chia áo sẻ cơm,
Lòng ta mới thoả.
Người no ấm cả,
Là hạnh phúc chung.
Lên tháp đại đồng,
Nhờ thang bác ái.
Ta nên gắng gỏi,
Nên kiệm nên cần.
Xưa Nã Phá Luân,
Ở trong quân ngũ.
Đêm không yên ngủ,
Sách chẳng rời tay.
Kể người Thái Tây,
Ông là bậc nhất.
Xưa Lưu Việt Thạch,
Gối đòng suốt đêm.
Giấc ngủ không êm,
Nghe gà dậy múa.
Xưa vua Hạ Vũ,
Trị thuỷ tám năm.
Một giấc quang âm,
Quý hơn thước ngọc.
Người ta phải học,
Các bậc thánh hiền.
Muôn sự làm nên,
Chữ “Cần” cốt nhất.
Lại thêm nên biết,
Chữ “Kiệm” là hay.
Xưa ông Găngđi thánh
Hùng Ấn Độ.
Ngày hai chén sữa,
Với hai bát cơm.
Ăn thời ăn chay,
Mặc thời mặc vải.
Tiêu dùng mọi lối,
Rặt của nước mình.
Như ông Lý Minh,
Tài cao hơn chúng.
Ăn theo lao động,
Mặc theo thợ thuyền.
Vải mốc bánh đen,
Vì ai cơ khổ.
Kìa hai người đó,
Há phải đói nghèo.
Vì dốc lòng yêu,
Phải quên mình khổ.
Việc không gì khó,
Cốt mình hay “Cần”.
Của không sợ bần,
Cốt mình hay “Kiệm”.
Cần thời không kém,
Kiệm lại có thừa.
Lại sẵn thời giờ,
Tạ giùm xã hội.
Gánh gì chẳng nổi,
Vác gì chẳng xong.
No chung ấm chung,
Vui cùng thiên hạ.
Kìa Âu đây Á,
Bình đẳng tự do.
Càng nở càng to,
Thênh thênh bể ái.
Ngọn nguồn gốc suối,
Cần kiệm làm đầu.
Ai nấy bảo nhau,
Khắc cần khắc kiệm.

Thảo luận cho bài: "Cần kiệm là nguồn bể nhân ái"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả