Đôi Mắt Lụa

Tác giả:

Vũ Đình Bình dịch 


 

Jérôme Berthier lái xe quá nhanh, và vợ anh, nàng Monika xinh đẹp, phải cố hết sức thờ ơ để khỏi chú ý đến những sự khinh suất của anh. Nhưng vào dịp cuối tuần này họ đang đi săn sơn dương, đối với anh, đây là một cuộc săn thực sự thích thú, bởi vì anh yêu săn bắn và vợ anh và đồng quê và cả những người bạn mà họ sắp đón, Stanislas Brem và bạn gái (từ hồi ly dị, Stanislas hầu như cứ nửa tháng lại thay một cô mới). 
“Anh hy vọng họ sẽ đúng hẹn, Jérôme nói. Theo em, lần này cậu ấy sẽ dẫn đến cho chúng ta một cô như thế nào?” 
Monika mỉm cười mệt mỏi. 
“Làm sao em biết được? Em hy vọng đó sẽ là một cô gái yêu thích thể thao, cuộc đi săn của bọn anh rất vất vả, đúng không?" 
Anh gật đầu. 
“Ừ, rất vất vả. Anh thường tự hỏi không hiểu tại sao Stanislas ở tuổi cậu ấy, tức là ở tuổi bọn mình rồi, mà còn làm dáng một cách vô duyên… Mà này, nếu cậu ấy lề mề, chúng ta sẽ lỡ chuyến bay mất. 
– Anh chẳng lỡ cái gì bao giờ đâu, nàng nói và cười 
Jérôme Berthier liếc xéo về phía nàng, tự hỏi một lần nữa nàng nói thế là có ý gì. Anh là một người đàn ông rắn rỏi, chung thủy và lặng lẽ. Anh biết mình khó hấp dẫn và từ mười ba năm nay kể từ khi họ lấy nhau, anh bảo đảm cho người đàn bà này – người duy nhất anh từng yêu – một cuộc sống thuộc loại dễ chịu nhất và yên tâm nhất. Nhưng đôi khi anh tự hỏi không rõ điều gì ẩn sau sự lặng lẽ, sau đôi mắt sẫm màu và bình thản của Monika, người vợ xinh đẹp của anh. 
“Ý em muốn nói gì vậy? Anh hỏi. 
– Em muốn nói rằng anh không bị lỡ một cái gì cả: cả công việc của anh, cả cuộc đời anh, cả cácchuyến bay của anh. Em còn nghĩ rằng anh không bị hụt cái con sơn dương kia đâu. 
– Anh rất hy vọng như vậy, anh tiếp lời. Anh đi săn không phải để bắn lên trời. và em hãy tin anh, đó là một con vật khó lừa nhất.” 
Họ tới trước một ngôi nhà trên đại lộ Raspail và Jérôme bấm còi ba lần cho tới lúc một cửa sổ mở ra và một người đàn ông xuất hiện vung rộng tay lên chào. Jérôme thò đầu ra ngoài cửa xe gọi to: 
“Xuống đi kẻo lỡ máy bay mất.” 
Cánh cửa sổ đóng lại, và hai phút sau, Stanislas Brem và cô bạn gái ra cổng. 
Stanislas Brem cũng cao, linh hoạt và hiếu động như Jérôme chắc chắn, vững vàng và quả quyết vậy. Cô bạn gái thì tóc vàng, xinh xắn, có vẻ nhạy cảm, một trong những phụ nữ vẫn được gọi là “của kỳ nghỉ cuối tuần”. Họ chui vào cửa sau xe, rồi Stanislas nói đôi lời giới thiệu: 
“Monika thân mến, anh giới thiệu với em đây là Betty. Betty, đây là Monika và chồng cô ấy, kiến trúc sư Berthier nổi tiếng. Từ bây giờ, em ở dưới quyền cậu ấy, cậu ấy sẽ là người điều khiển mọi việc.” 
Tất cả cùng cất tiếng cười vang và Monika thân ái siết chặt bàn tay cô Betty nọ. Xe chạy tiếp theo hướng Roissy. Stanislas ngả người về phía trước hỏi bằng một giọng hơi cao: 
“Chuyến đi này, cả hai người đều vừa lòng chứ?” 
Không đợi câu trả lời, anh quay sang phía cô bạn gái và mỉm cười với cô. Anh cực kỳ quyến rũ vì anh vui vẻ, hơi thoái hóa, hơi ăn chơi, hơi tham vọng. Và như bị thôi miên, Betty mỉm cười đáp lại. 
“Em biết không, anh nói tiếp rõ to, anh biết cậu này đã hai mươi năm. Bọn anh cùng học trung học. Cậu ấy luôn chiếm các giải nhất và khi đánh nhau trong giờ ra chơi, cậu ấy luôn có cú đấm tuyệt diệu, và những cú đấm ấy thường để bảo vệ anh, vì từ hồi đó, anh đã là một kẻ rất tệ.” 
Rồi anh chỉ Monika: 
“Anh biết cô ấy từ mười ba năm nay. Đây là ~nột cặp vợ chồng hạnh phúc, em yêu quý ạ, cứ nhìn mà xem.” 
Ở đằng trước, cả Jérôme lẫn Monika hình như đều không nghe anh nói. Một nụ cười thoáng nhẹ, như đồng loã, lướt trên môi họ. 
“Và khi anh ly dị, Stanislas nói tiếp, chính họ đã an ủi anh, bởi vì anh rất buồn.” 
Xe chạy nhanh và bây giờ đã là trên xa lộ phía Bắc, và cô Betty trẻ tuổi phải nói như hét khi hỏi: 
“Tại sao anh lại buồn? Tại vợ anh không yêu anh nữa? 
– Không phải! Stanislas hét lên đáp lại, chính anh đã không yêu cô ta nữa, và hăy tin anh, đối với một người hào hoa phong nhã, điều đó thật kinh khủng.” 
Anh cười vang và lại ngả người ra lưng ghế. 
Sau đó là Roissy, địa ngục Roissy, và họ thán phục theo dõi Jérôme thành thạo đưa vé, đăng ký hành lý, làm tất cả mọi chuyện. Ba người kia chỉ nhìn, hai phụ nữ đã quen với việc một người đàn ông lo toan cho họ, còn Stanislas thì làm ra vẻ không thèm nhúc nhích. Rồi đến các hành lang, các tấm thảm lăn, nơi họ diễu qua dưới lớp cellophane trong suốt từng cặp một, bất động như bị đóng băng, hình ảnh “đúc sẵn” của những cặp vợ chồng khá giả trong thời đại chúng ta. Rồi máy bay, họ là những người lên đầu tiên, nối đuôi nhau, và qua ô cửa sổ nhỏ, Monika nhìn những đám mây bay lướt bên ngoài, không cả xem qua tờ tạp chí người ta đưa cho. Jérôme đứng dậy, và đột nhiên, ngay bên cạnh nàng là hình trông nghiêng của Stanislas, anh ta giơ tay chỉ trỏ gì đó ra cửa sổ, nhưng miệng anh ta lại nói: 
“Anh rất muốn em, em biết đấy, em hãy thu xếp đi, anh không biết vào lúc nào, nhưng anh muốn được em trong ký nghỉ cuối tuần này.” 
Nàng chớp chớp mắt nhưng không trả lời. 
“Hãy nói với anh rằng em cũng muốn thế đi", – anh ta lại nói tiếp, vẫn mỉm cười. 
Nàng quay về phía anh ta, ánh mắt nghiêm trang, nhưng trước khi nàng có thể nói điều gì, loa phóng thanh trên máy bay đã loan báo: 
“Chúng ta sắp hạ cánh xuống Munich, đề nghị các quý khách về chỗ ngồi của mình, thắt dây an toàn lại và tắt thuốc lá.” Họ đối mặt nhau trong chốc lát, vừa như hai kẻ thù lại vừa như đôi tình nhân, anh ta mỉm cười, lần này là mỉm cười thực sự, rồi về chỗ ngồi. Jérôme trở lại ngồi bên cạnh nàng. 
Trời mưa như trút. Họ đến căn nhà gỗ ở khu săn bắn bằng một chiếc xe thuê. Tất nhiên Jérôme cầm lái. Trước khi lên xe, Monika có một cử chỉ rất dễ thương, nàng hỏi xem Betty có bị say xe không. Betty, có vẻ như rất muốn được đối xừ theo đúng phép xã giao và được tôn trọng, liền gật đầu và ngồi lên ghế trên, bên cạnh Jérôme. 
Jérôme đang rất vui. Mặt đường có nhiều lá rụng, trời thì mưa, lại bắt đầu có sương mù nên anh phải tập trung chú ý lái xe, nhưng ánh đèn pha chấp chới, hai cái gạt nước chạy qua chạy lại và tiếng động cơ như dựng lên giữa anh và những người khác một bức tường không lấy gì làm dễ chịu lắm. Như thường lệ, anh cảm thấy mình là người chịu trách nhiệm, là cái hoa tiêu của cái con tàu vũ trụ nhỏ bé này, nó đang đưa họ tới lều săn. Anh lái, anh tăng tốc độ, anh đạp phanh, anh quản lý bốn sinh mạng, trong đó có sinh mạng anh, với một cảm giác quen thuộc và tuyệt đối an toàn. Các chỗ rẽ đều ngoặt gấp mà trời thì đã tối. Sát hai bên đường là nhưng cây thông và những thác nước. Qua ô cửa sổ, Jérôme hít thở tất cả các hương thơm cổ điển của mùa thu. Chắc vì xe rẽ ngoặt liên tục nên cả Stanislas và Monika đều không nói gì nữa. Anh ngoảnh lại phía họ:
“Hai người không ngủ đấy chứ? Betty gần như đang ngáy đây này.” 
Stanislas bật cười: 
“Không, không ai ngủ đâu, bọn tớ đang nhìn, nhìn vào bóng đêm. 
– Mọi người có muốn nghe một chút âm nhạc không?” 
Anh bật đài, và lập tức giọng hát cuồng nhiệt của Caballe tràn ngập trong xe. Caballe hát một điệu nhạc phóng khoáng trong vở opera Tosca và Jérôme cảm thấy vô cùng ngạc nhiên cảm thấy nước mắt trào lên mi, đến mức bất giác anh cho cái gạt nước hoạt động trước khi hiểu ra rằng đó không phải là mùa thu làm cho anh nhìn bị nhoè. Đột nhiên anh tự nhủ: “Ta yêu thời tiết này, ta yêuvùng đất này, ta yêu con đường này, ta yêu chiếc xe này và nhất là ta yêu người phụ nữ tóc nâu đang ngồi đằng sau ta, nàng là của ta và cũng với sự thích thú như ta, nàng nghe giọng của một người phụ nữ khác, người phụ nữ đang hát kia.” 
Jérôme ít thổ lộ nỗi lòng, ít nói, nói với những người khác lại càng ít. Ai cũng bảo anh là một người đơn giản, gần như thô nháp, nhưng bỗng dưng, ở đây, anh muốn dừng xe lại, bước xuống mở cửa sau, ôm lấy vợ anh vào trong tay và dù có vẻ nực cười, anh vẫn muốn nói rằng anh yêu nàng. Giọng người nữ ca sĩ vút lên. dàn nhạc đuổi theo sau như bị thôi miên, bị cuốn hút bởi giọng hát ấy và Jérôme, một cách vô thức, gần như cuống quít – từ này chẳng hợp với anh chút nào – anh chỉnh gương chiếu hậu và ném một cái nhìn về phía vợ mình. Anh tưởng anh nhìn thấy nàng như anh vẫn thường nhìn thấy nàng trong các buổi nghe nhạc: bất động, sững sờ, đôi mắt mở to, nhưng anh hạ mảnh gương chiếu hậu quá mạnh tay nên hình ảnh anh nhìn thấy là bàn tay dài và gầy của Stanislas ấp vào tay Monika. Anh lập tức nâng mảnh gương lên và tiếng nhạc trở thành một chuỗi khó hiểu và rời rạc những âm thanh ghê tởm được rống lên bởi một con điên. Trong chốc lát, anh không nhìn ra được rõ lắm con đường nữa, cũng không trông rõ cả những cây thông, cả chỗ rẽ ở đằng trước. Nhưng rồi lập tức, con người hành động, con người chịu trách nhiệm trong anh đã điều chỉnh tay lái, phanh lại một chút và quyết định một cách bình tĩnh rằng anh muốn cái người đàn ông ngồi đằng sau kia, cái người đàn ông tóc vàng, mắt xanh đang núp trong bóng tối với vợ anh, anh muốn, tóm lại, hắn phải chết ngay ngàymai và chết do chính bàn tay anh. Thế nhưng, người đàn ông ấy đã nhận ra vẻ khác thường của anh và lập tức Jérôme thấy bên cạnh mặt mình là gương mặt đáng ghét, đáng thù của người bạn thời thơ ấu. 
“Này, Stanislas nói, cậu mơ mộng đấy à? 
– Không, anh đáp, tớ nghe nhạc trong vở Tosca. 
– Tosca à? Stanislas vui vẻ nói tiếp, quãng nào vậy? 
– Quãng Scarpia quyết định giết Mario vì ghen tuông. 
– Scarpia nghĩ thế là đúng, Stanislas vẫn vừa nói vừa cười, anh ta chỉ còn mỗi cách ấy.” 
Stanislas lại ngả người ra sau, gần Monika, và lập tức Jérôme cảm thấy bớt căng thẳng hẳn. Dàn đồng ca điên rồ trong đài lắng xuống và anh mỉm cười. 
Đúng là chỉ còn cách ấy. 

*** 

Đó là một ngôi nhà to dành cho người đi săn, làm bằng gỗ cây bouleau với những thanh xà, những tấm da thú trải dưới đất, những cái lò sưởi và trên tường là những cái đầu đẹp nhất, đã nhồi rơm của những con thú “nạn nhân”. Một chỗ thật là đẹp! Nhưng bỗng anh thấy nó kỳ cục đến mức lố bịch. Anh đánh thức Betty, dỡ hành lý, đốt lửa và bảo người gác chuẩn bị bữa ăn. Họ đã vừa ăn rất vui vẻ vừa nghe – đây là ý thích thất thường của Stanislas – các bài hát của Mỹ bằng chiếc máy hát điện cũ. Còn bây giờ, anh và Monika đã ở trong phòng riêng. Nàng thay quần áo trong buồng tắm, anh thì ngồi ở chân giường uống hết một chai Wilhelmine. 
Trong anh có một cái gì đó hoàn toàn bất động, hoàn toàn đau đớn và hoàn toàn không thể cứu vãn được. Anh biết anh không thể hỏi nàng: “Có chuyện đó không? Ai? Từ bao giờ? Tại sao? Rồi chuyện đó sẽ kết thúc như thế nào?” Quả thật đã khá lâu nay anh không nói chuyện với vợ nữa. Anh đưa nàng đi chơi khắp nơi, anh nuôi nàng, anh làm tình với nàng, nhưng anh không nói chuyện với nàng nữa. Và anh lờ mờ thấy rằng hình như những câu hỏi ấy, dù có lý do đến mấy, cũng chỉ là một sự tò mò không đúng lúc, lỗi thời, gần như tầm thường. 
Anh uống một cách chăm chỉ, không có nguyên cớ đặc biệt nào, cũng không phải vì thất vọng. Anh uống để bình tĩnh lại. Đó không phải một con người cần dùng đến thuốc an thần, hoặc cần dùng đến thuốc amphétamine. Mà đó là một người không ra gì, “một con người đơn giản”, anh nghĩ với một cảm giác cay đắng và một cảm giác như thể cười nhạo và khinh thường người đó. 
Monika từ buồng tắm bước ra, tóc nàng vẫn luôn đen như thế, gò má nàng vẫn luôn cao như thế và mắt nàng vẫn luôn bình thản như thế. Khi đi qua chỗ anh ngồi, nàng đặt một bàn tay lên đầu anh, trước cử chỉ quen thuộc vừa là dấu hiệu lệ thuộc, vừa là dấu hiệu quyền lực ấy, anh không hề có một động tác lùi lại. 
“Anh có vẻ như mệt đấy, nàng nói, anh phải đi ngủ ngay đi. Ngày mai các anh còn phải dậy sớm đi săn.” 
Kể nghĩ đến chuyện đó cũng buồn cười thật. Nàng không săn bắn bao giờ, nàng không bao giờ muốn đi với họ. Nàng khẳng định rằng tiếng súng làm nàng sợ, lũ chó bị kích động thì làm phiền nàng, tóm lại, nàng không thích săn bắn. Anh chưa bao giờ hỏi thực ra tại sao Monika không đi theo họ, vì nói cho cùng, nàng đâu có sợ mệt mỏi, cũng không ngại đi bộ và nói chung, chẳng bao giờ nàng sợ gì cả. 
“Lạ thật, anh nói, và anh bỗng thấy giọng anh hình như lúng búng, kể cũng buồn cười là em lại không đi săn.” 
Nàng cười: 
“Sau mười năm mà anh vẫn còn ngạc nhiên à? 
– Ngạc nhiên thì có bao giờ muộn đâu, anh nói một cách ngơ ngẩn và cảm thấy sững sờ, anh bỗng đỏ mặt. 
– Có chứ, nàng nằm dài ra và vừa ngáp vừa nói, có chứ anh, quá muộn rồi. Anh biết không, em yêu các động vật hoang dã, em thấy chúng còn đáng được yêu mến hơn các động.vật khác. 
– Em nghĩ thế?” anh nói. 
Nàng mỉm cười và tắt đèn ở phía nàng. 
“Ồ, nàng bảo, điều đó không nói lên gì cả. Tại sao anh không đi nằm?” 
Anh gật đầu, cởi chiếc áo chandail và đôi giầy rồi bất thình lình buông người xuống ngang giường. 
“Lười thế không biết!” nàng nói, nhoài người phía trên anh tắt ngọn đèn ở đầu giường phía dưới anh. 
Anh lắng tai nghe, anh nghe thấy sự im lặng. Nàng thở nhè nhẹ, nàng sắp ngủ. 
“Em thấy không, anh hỏi, và anh thấy có cảm giác giọng anh chấp chới và lo sợ như giọng một đứa trẻ con, em không thấy Caballe hát rất hay điệu nhạc ấy trong vở Tosca sao? 
– Có nàng nói, Caballe hát hay tuyệt, sao vậy anh? 
Một chút im lặng nhẹ nhàng, rồi nàng cười, tiếng cười quen thuộc, hơi trầm, khe khẽ, tự nhiên. 
“Vở opera làm anh trở lên lãng mạn, hay là mùa thu, hoặc cả hai.” 
Anh cúi xuống mò mẫm tìm chai rượu Wilhelmine ở dưới đất. Rượu vừa mạnh, vừa nóng và chẳng có mùi vị gì. 
“Ta có thể quay sang phía nàng, anh nghĩ, ôm lấy nàng, bắt nàng làm tất cả những gì ta muốn.” Và một người nào đó trong anh, một người nào đó rất trẻ con, yếu đuối và khát khao giơ tay về phía nàng. Anh chạm vào vai nàng, thế là, bằng một cử động hoàn toàn tự nhiên, nàng cựa đầu và áp miệng vào vai anh. 
“Ngủ đi anh, nàng nói, khuya rồi. Em đang mệt và anh thì ngày mai sẽ mệt. Ngủ đi, Jérôme.” 
Anh rụt tay lại, xoay người sang phía khác, thằng bé mê cuồng biến mất, nhường chỗ cho một người đàn ông bốn mươi tuổi, lạnh băng và bụng chứa đầy rượu Wilhelmine đang suy nghĩ tỉ mỉ, cẩn thận làm cách nào dùng ống kính télé, điểm ngắm, cò súng, rồi lửa, rồi sắt, rồi tiếng động để có thể loại trừ một cuộc sống, nhất là cuộc sống của con người xa lạ này đang ở bên cạnh anh, một gã tóc vàng rất độc hại tên là Stanislas. 

*** 

Mười giờ sáng. Trời đẹp, đẹp một cách kinh khủng. Họ lùng sục khắp rừng đã ba tiếng đồng hồ. Người coi khu săn bắn đã phát hiện ra một con sơn dương tuyệt vời và Jérôme đã hai lần nhìn thấy nó qua ống nhòm, nhưng bây giờ, con mồi của anh là một sinh vật khác hẳn. Con mồi của anh có bộ tóc vàng, mặc bộ quán áo bằng da màu hung, con mồi của anh đến là khó bắn. Anh đã trượt hắn hai lần. Lần đầu, hắn nhảy phóc ra một bãi cây nhỏ vì tưởng trông thấy con sơn dương. Lần thứ hai, cái đầu có mái tóc vàng của Betty xen vào giữa điểm đen lấp lánh ở khẩu súng và con mồi của anh. Còn bây giờ, ở kia, hắn ở ngay trước mặt anh. Stanislas Brem đang đứng giữa một quãng rừng trống. Anh ta đặt súng giữa hai chân, tì người trên một chân, anh ta nhìn bầu trời xanh, nhìn các tán lá cây hung đỏ với một nguồn hạnh phúc ngập tràn, và ngón tay Jérôme bắt đầu đặt lên cò súng. Cái khuôn mặt kia sắp nổ tung, những món tóc vàng quá mảnh kia sẽ không bao giờ nằm nghỉ ngơi nữa trong bàn tay Monika, làn da kia của đứa trẻ hư hỏng sẽ nhận được năm mươi viên đạn chì. Nhưng đột nhiên, bằng một cử chỉ bất ngờ, một cử chỉ chẳng liên quan đến ai, Stanislas giơ hai tay lên trời. Để khẩu súng trượt xuống đất, anh ta vươn người trong một tư thế sung sướng xả láng trông đến là khó chịu. 
Như bị một cái tát, Jérôme bắn. Stanislas giật nảy mình, đưa mắt nhìn quanh, có vẻ kinh ngạc nhiều hơn là sợ hãi. Jérôme hạ tay xuống, không một chút kiêu hãnh nhận thấy rằng bàn tay không run, nhưng cũng điên tiết nhận thấy anh đã không nghĩ đến chuyện thay đổi tầm ngắm. Anh bắn ở độ xa hai trăm mét. Anh điều chỉnh rồi lại đưa súng tì vai, và tiếng người coi khu săn bắn làm phiền anh nhiều hơn là làm anh sợ. 
“Ông trông thấy gì chăng, ông Berthier? 
– Tôi nghĩ mình trông thấy một con gà gô, Jérôme quay lại nói. 
– Đừng bắn ông ạ, – người coi khu săn bắn nói. Nếu ông định bắn con sơn dương, thì ông không nên gây tiếng động. Tôi biết nó đi đâu, tôi biết bây giờ có thể nó ở đâu, ông đừng làm nó hoảng sợ. 
– Tôi xin lỗi, Jérôme nói một cách ngốc nghếch. Tôi sẽ không bắn vu vơ nữa. 
Rồi anh mở súng lấy đạn ra và đi theo ông già. 
Lạ thật, anh như bị phân đôi, vừa vui đùa lại vừa .tức giận. Anh biết rõ anh sẽ giết Stanislas trước tối nay, nhưng rốt cuộc anh lại thấy thú vị vì được làm chuyện đó nhiều lần. 
Hai giờ sau, anh bị lạc. Tất cả bọn họ đều bị lạc, vì con sơn dương quá ranh mãnh, khu săn bắn quá rộng, số người lùa thú săn ại quá ít. Thành thử, mải theo một con mồi khác chứ không phải con mồi chính thức, chẳng hiểu thế nào, rốt cuộc anh rơi vào một tình thế ngớ ngẩn là chỉ có một mình anh trước con mồi này, tuy ở cách nó một khoảng xa, rất xa. Con sơn dương đứng trên một mỏm đá, ngược ánh mặt trời, hoàn toàn bất động. Jérôme bất giác cầm lấy ống nhòm. Bây giờ thì anh run run, anh mệt mỏi, thở dốc, anh trở nên già cả, anh đã bốn mươi tuổi và anh yêu một người đàn bà không còn yêu anh nữa. Ý nghĩ ấy khiến anh gần như bị mù trong chốc lát, rồi anh chỉnh ống nhòm và trông thấy con sơn dương rất gần, tưởng như có thể chạm tay vào được. Nó màu be, còn non, nó có đôi mắt lo lắng nhưng kiêu hãnh, nó nhìn khi thì về phía thung lũng, nơi có những kẻ thù của nó, khi thì về phía quả núi, và hình như nó đùa vui với sự sống chết này. Ở nó có một cái gì đó sợ sệt, dễ vỡ và không thể bị làm tổn thương. Hình như nó đứng đó để chứng tỏ vẻ đẹp của sự ngây thơ, của sự nhanh nhẹn và của sự chạy trốn. Nó rất đẹp. Nó đẹp hơn bất cứ một con vật nào khác mà Jérôme từng săn. 
“Để sau, Jérôme tự nhủ, để sau ta sẽ giết gã kia (thậm chí anh không nhớ ra tên anh ta). Nhưng mi, mi, người bạn đẹp của ta, ta muốn mi.” 
Và anh bắt đầu trèo theo con đường nhỏ cực kỳ hiểm trở dẫn về phía nó. 
Ở mé dưới, cuộc săn bị phân tán tứ tung. Có tiếng chó sủa ở bên trái, tiếng chó sủa ở bên phải, tiếng còi mỗi lúc một xa và Jérôme có cảm giác anh đang rời bỏ một thế giới buồn tẻ và nhơ nhớp để trở về nhà mình. 
Mặc dù có nắng, trời vẫn rất lạnh. Khi anh lại cầm ống nhòm lên, con sơn dương vẫn đứng đó, anh thấy hình như nó nhìn anh, rồi với những bước ngắn, nó đi vào một rừng cây to. Jérôme đến cánh rừng ấy sau đó nửa tiếng đồng hồ. Anh lần theo các dấu chân đến một hẻm vực và ở đó, con sơn dương lại đợi anh. Chỉ còn anh với nó trong cuộc săn này. Tim anh đập thình thịch và anh gần như muốn nôn thốc nôn tháo. Anh ngồi xuống đất rồi lại đi. Rồi anh dừng lại để ăn đôi chút bánh mỳ và jambon trong xà cột, con sơn dương thì đợi anh, ít ra thì anh cũng nghĩ thế. Đến bốn giờ chiều, anh đã vượt qua gianh giới khu săn bắn và hầu như anh cũng đã vượt quá giới hạn sức lực của anh, con sơn dương vẫn luôn ở đằng trước anh, thấp thoáng và hiền lành, nhưng luôn khá rõ và đẹp qua các lăng kính của ống nhòm. Chưa thể bắn, tất nhiên, cũng không thể đuổi kịp, và nó vẫn luôn ở kia. 
Jérôme bây giờ mệt rã rời sau tám tiếng đồng hồ chính anh cũng không biết là anh săn đuổi hay anh đi theo con vật kỳ lạ kia, mệt đến nỗi anh bắt đầu nói thành tiếng. Anh đặt tên cho con sơn dương là “Monika”, và trong lúc bước đi, trong lúc vấp váp và trong lúc chửi rủa tục tằn, đôi khi anh nói: “Mẹ kiếp, Monika, đừng đi nhanh quá thế!” Có một lúc, anh ngần ngừ trước một cái ao, rồi anh lặng lẽ lội xuống, súng giơ cao trên đầu, nước tới ngang thắt lưng, mặc dù anh biết thời tiết này làm như vậy là nguy hiểm và ngốc nghếch đối với một người đi săn. Rồi khi anh cảm thấy chân bị trượt, thoạt tiên anh không cưỡng lại. Anh cứ để cho người ngửa ra mặc kệ nước ngập tới cổ, tới miệng, tới mũi, anh gần như ngộp thở. Một cảm giác thích thú choán lấy anh, một sự thích thú buông thả rất xa với bản chất của anh. “Ta đang tự tử”, anh nghĩ, và con người điềm tĩnh trong anh lại xuất hiện, lấy lại cân bằng cho anh, đưa anh ra khỏi cái ao khốn khổ ấy, ướt lướt thướt, nhớn nhác và run lẩy bẩy. Sự việc này gợi cho anh nhớ tới một điều gì, nhưng điều gì nhỉ? Anh cất tiếng nói to: 
“Lúc sắp chết chìm, hình như anh đang nghe Caballe hát. Giống như cái lần, em nhớ chăng, cái lần đầu tiên mà anh nói với em rằng anh yêu em ấy mà? Bấy giờ chúng ta đang ở nhà em, em tiến về phía anh, em nhớ không, và đó là lần đầu tiên chúng ta làm tình với nhau. Anh rất sợ khi ngủ với em và lại rất muốn, hôm ấy, anh có cảm giác như anh sắp tự tử.” 
Anh lấy bình:rưọu trong chiếc xà cột bây giờ nhét toàn những viên đạn ướt chẳng còn dùng được gì, rồi ngửa cổ lên tu một lúc lâu. Sau đó, anh lại cẩm ống nhòm và thấy vẫn luôn ở cách anh một quãng xa hơn chút ít là con sơn dương-Monika-tình yêu (anh không biết tên nó nữa) đang đợi anh. May quá, anh vẫn còn hai viên đạn khô ráo trong nòng súng. 
Khoảng năm giờ, như đôi khi ở Bavière vào mùa thu; ánh nắng đã chiếu xiên. Jérôme rét run cầm cập khi đi vào thung lũng cuối cùng. Anh nằm lăn xuống vì mệt, người duỗi dài trong nắng. Monika tới ngồi xuống cạnh anh và anh lại tiếp tục nói câu chuyện ban nãy: 
“Em nhớ không, một lần, một lần chúng ta cãi nhau và em muốn bỏ anh. Hình như đó là khoảng mười ngày trước khi chúng ta lấy nhau thì phải, anh nằm dài trên cỏ, ở nhà bố mẹ em, trời hôm ấy rất xấu và anh buồn lắm. Anh nhắm mắt lại, bây giờ anh nhớ rõ như thế, và đột nhiên, anh cảm thấy hơi nóng của mặt trời sưởi ấm mí mắt anh, đó quả thật là một điểu may mắn bởi vì trước lúc ấy trời rất xấu, và khi anh mở mắt ra vì ánh nắng, anh thấy em đã ngồi đó, bên cạnh anh, em nhìn anh và mỉrn cười.” 
“Vâng, nàng nói, em nhớ hôm ấy rất rõ. Hôm ấy anh đến là tệ, và em thực sự tức giận. Rồi sau, em đi tìm anh và trông thấy anh đang nằm dài trên bãi cỏ, có vẻ hờn dỗi, em buồn cười quá, muốn ôm lấy anh mà hôn.” 
Tới đó, nàng biến mất, và Jérôme giụi mắt đứng dậy. Cuối thung lũng là một vách đá cực kỳ hiểm trở, gần như dựng đứng. Con sơn dương đứng bất động trước vách đá ấy. Jérôme đã có con vật này. Anh xứng đáng được nó lắm. Trong đời anh, chưa bao giờ anh đuổi theo con mồi nào suốt gần mười tiếng đồng hồ. Anh dừng lại ở lối vào thung lũng, kiệt sức, và lại đóng khẩu súng lại. Anh nâng tay phải lên một chút rồi chờ đợi. Con sơn dương nhìn anh, khoảng cách bây giờ chừng hai mươi mét. Nó vẫn luôn rất đẹp, hơi ướt mồ hôi, và đôi mắt màu xanh pha sắc vàng của nó, đôi mắt lụa, đang nhìn chăm chú. 
Jérôme tì súng lên vai và thế là con sơn dương làm một điều ngốc nghếch và vụng về: nó quay người, và có lẽ đã đến lần thứ mười, nó thử leo lên bờ dốc, và có lẽ cũng là lần thứ mười nó trượt xuống, trông rất nực cười mặc dù nó vốn rất duyên dáng, cuối cùng, nó đành đứng bất động, run run và luôn có vẻ bồn chồn, ngay trước mũi súng của Jérôme. 
Không bao giờ Jérôme biết được tại sao, vào lúc nào và bằng cách nào anh đã quyết định không giết con sơn dương này. Có thể vì sự cố gắng tuyệt vọng và vụng về cua nó, có thể vì vẻ đẹp giản dị của nó, cũng có thể vì niềm kiêu hãnh và tính động vật hiền lành trong đôi mắt xếch của nó. Mà cũng chẳng bao giờ Jérôme tìm cách biết tại sao. 
Anh quay trở lại, đi theo đúng con đường ban nãy để về. Về tới nơi, anh thấy tất cả mọi người đang cuống cuồng cả lên, họ đã tìm kiếm anh khắp nơi, họ tìm cả một anh thanh niên coi khu săn bắn mà anh cảm thấy có biết hành động của anh. Tuy nhiên, khi mọi người cùng hỏi anh rằng con sơn dương ấy chạy đi đâu và anh đã bỏ nó ở đâu – vì rốt cuộc khi về đến nơi thì mắt hoa lên chẳng còn trông thấy gì, tay chân tê dại, đến cửa căn nhà anh mệt quá đổ gục xuống – anh không biết trả lời sao. 
Stanislas đưa anh cốc rượu cô-nhắc và vợ anh ngồi trên giường bên cạnh anh, cầm tay anh. Mặt nàng tái mét. Anh hỏi nàng tại sao và nàng trả lời rằng nàng lo cho anh. Anh ngạc nhiên thấy mình tin ngay nàng. 
“Em sợ anh chết, anh nói, em sợ anh ngã từ trên vách đá xuống à?” 
Nàng gật đầu không đáp, và đột nhiên nàng cúi xuống anh, ngả đầu lên vai anh. Lần đầu tiên trong đời nàng có một cử chỉ âu yếm với anh trước mặt mọi người. Stanislas vừa cầm cốc cô-nhắc nữa tới, đứng nhìn cảnh đó mà choáng người; mái tóc đen của người đàn bà kia xoã trên vai người đàn ông mệt rã rời kia, và những tiếng thổn thức rất nhẹ của người đàn bà kia, những tiếng thổn thức vì đã vợi được nỗi lo sợ, và thế là đột nhiên Stanislas ném cốc rượu vào lò sưởi. 
“Hãy nói đi, anh ta nói, và giọng anh ta trở nên cao tớn lên, nào, con sơn dương đâu? Cậu không thể vác nổi con mồi của cậu về hay sao, hả con người thép?” 
Jérôme vô cùng ngạc nhiên vì trước ngọn lửa sáng rực và trước mặt Betty sửng sốt, anh nghe thấy mình trả lời: 
“Không phải thế, tớ không dám bắn nó.” 
Monika ngẩng đầu lên và họ nhìn nhau. Nàng thong thả giơ bàn tay và các ngón tay nàng dịu dàng vuốt một vòng quanh mặt anh. 
“Anh biết không, nàng nói (vào lúc này họ chỉ có hai người với nhau trên thế giới này), anh biết không, dù anh có bắn chết nó…” 

 

Và thực tế thì những người khác cũng đã biến mất hết, anh kéo nàng áp vào anh, và ngọn lửa trong lò sưởi cháy bùng lên. 

 

VŨ ĐÌNH BÌNH dịch


Thảo luận cho bài: "Đôi Mắt Lụa"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả