Hai phía chân trời

Tác giả:

 HAI PHÍA CHÂN TRỜI

 Truyện ngắn của Trần Hoài Văn
 

 
Phố núi. Chiều cuối năm.
Những hạt mưa li ti thoảng như hơi thở phà nhưng cũng đủ làm ướt áo kẻ bộ hành. Con phố nghèo với vài mươi nóc nhà gà gật hứng lây rây bụi nước trông ngơ ngẩn, thất thần như một kẻ nát rượu chưa tỉnh hẳn cơn say. Con đường được gọi là phố, thôi thì dù là phố huyện, mặc lòng hắn đã cố tránh nhưng cơn mưa dầm thấm lâu biến thành những vũng cháo quánh khiến hai ống quần hắn toe toét vết bùn bắn.
Cuối con đường có một ngôi nhà xiêu xiêu, đứng hơi xa các ngôi nhà khác như gã say bần tiện đang độc ẩm bữa rượu cạn. Đó là nơi hắn muốn đến năm năm trước đây và phải đến bây giờ…Càng tới gần, đôi chân hắn tự đi chậm lại tưạ phải đến gần một gái làng chơi bất đắc dĩ chỉ vì nể nang, chỉ vì thương hại. 
Hắn tần ngần dễ đến hai lần bên hàng rào găng có cái cổng được buộc bằng mấy thanh tre dúm dó. Đành phải vậy thôi. Hắn nhủ lòng. Đành phải băng qua mảnh sân đất nện đỏ au nhăn nhúm vì cơn mưa châm chích, gặp lại những người mà suốt năm năm qua chọn một nơi bé nhỏ nhất nép sâu lom khom, e dè trong tâm trí hắn. Họ cứ ngồi im nơi đó, kiên nhẫn, thậm chí mang dáng vẻ thảm hại của kẻ cùng đường với ánh mắt khẩn cầu, da diết, đau khổ và tuyệt vọng…Thoảng họ lại nhoi lên lăn tăn yếu ớt như đám cá bột đủ để hắn chợt ngắc lại khi nuốt ngụm rượu nhạt vào những đêm trống rỗng, không một ấm áp dù chỉ  một hơi thở hắt.
Hắn đưa tay ngập ngừng đẩy chiếc cổng tre, rồi rụt phắt lại như đang bốc bải ăn vụng thì bị ai đánh mạnh vào tay. Có nên không nhỉ? Hắn tự hỏi. Có cần sự xuất hiện của ta và những điều chết tiệt mà ta phải nói với họ không nhỉ? Bởi chả cần thêm chút đau buồn nào thì chiều phố núi đã quá thê lương, ảm đạm như gã nghiện đang lên cơn và muốn tự sát khi nhìn vỏ chai khô lăn lóc bên cạnh, trong túi thì nhẵn không còn một cắc. Hay cứ mặc họ sống tiếp quãng đời còn lại với một hy vọng đau đáu để mà bấu víu, để mà chờ đợi, để khỏi nghĩ đến cái sự vô nghĩa khi phải sống tiếp? Liệu có độc ác không khi lát nữa thôi, hắn, chính hắn sẽ tước đi của họ niềm hy vọng sum họp mà họ đã ngong ngóng trông đợi bao năm qua. Có nên không nhỉ? Có nên…
Theo thói quen hắn thò tay vào túi tìm thuốc lá. Bao thuốc không thấy và ngón tay hắn chợt chạm phải cái gói hình chữ nhật vuông vắn được buộc chặt bằng mấy sợi dây chun. Trước đây, bao giờ cũng vậy, dẫu có mệt mỏi và chán nản đến đâu, chỉ cần nhìn thấy những tờ giấy bạc màu nõn chuối có in hình mấy ông mũi lõ tóc quăn kia là tình yêu cuộc sống trong hắn lại ngo ngoe ngóc đầu dậy. Nhưng lúc này đây cái cảm giác nẫu lòng không hề biến đi. Nó chỉ càng nhắc nhở và cấu vào nỗi mất mát…Nỗi mất mát của kiếp người. Nỗi mất mát của sự đánh đổi. Liệu tập đô la mà hắn có nhiệm vụ phải chuyển đến tận tay họ có làm thay đổi kiếp đời khốn khó mà họ đã từng ao ước trước đây hay chỉ càng vướng mắc vào sự tuyệt vọng mà không gì mua lại được? Hắn bỗng thương thân khi phải đứng đây trong sự giày vò rồi ngậm ngùi cho cả số phận mình…Khốn nạn!
Hắn lôi tập tập tiền ra nhìn trừng trừng. Ờ, chẳng phải là hắn đã bao công vất vả tìm kiếm mới gặp được người đàn bà, chủ nhân của những đồng tiền này ư? Chẳng phải hắn đã mất năm năm trời ròng rã đó ư? Chẳng phải vết chân hắn đã lang thang qua bao thành phố, thị xã, làng mạc xa lắc xa lơ ở tận góc trời Âu đó ư? Chẳng phải hắn đã hi vọng rồi thất vọng, rồi lại lé lói hi vọng, rồi thì tuyệt vọng đó ư? Và khi hắn tưởng đã cố quên được người đàn bà này cho cuộc sống được chút nhẹ nhõm thì nhờ vào một sự ngẫu nhiên đến kì diệu của số phận, hắn đã gặp được chị…
 
*   *   *
 

C
hiều Noel năm ấy…
Khi những cơn mưa tuyết trút xuống như nỗi tức giận không kìm giữ nhấn chìm những người dân bản xứ hối hả đi như chạy để mau kịp về nhà cùng gia đình quây quần bên bữa tiệc giáng sinh, thì hắn và đám bạn trong ban biên tập một tờ báo tiếng Việt cũng sum họp bên bàn rượu. Để quên nỗi buồn xa xứ, quên kiếp tha hương, quên cả  niềm vui cạn dần trong mỗi ngụm rượu đắng chát đầu lưỡi. Rượu. Chỉ có rượu chảy tràn mỗi dịp thế này mới làm tan chảy được nỗi cô đơn và chán chường đặc quánh lại như cục cao hổ rởm.
Đã thành lệ, hàng năm, cứ dịp này, họ lại quây quần cùng nhau nhậu một trận đã đời để tạm chia tay. Người về Việt Nam thăm nhà trong dịp tết. Người đi tìm thú vui ở những bãi biển “tự nhiên” đầy nắng gió với những nàng tiên da nâu không một mảnh vải che thân nằm phơi mình dưới bóng dừa của miền xích đạo.  Kẻ không có tiền đi du lịch hay về quê hương thì nằm trợn mắt nhìn trần nhà, hoặc tìm thú vui bên những ả gái điếm da trắng rẻ tiền, nốc vốt ka ừng ực và uể oải làm tình trong tiếng gầm gào man rợ của bão tuyết. Cuộc mưu sinh là vậy. Dù thắng hay bại sau một năm lăn lộn khốn khổ khốn nạn chốn thương trường nơi xứ người, đây là những lúc họ cần xả hơi trong những ngày chợ đuội. Để rồi sau hai, ba tuần, khi mà âm hưởng của ngày Giáng sinh và năm mới qua đi, khi mà mọi thú vui cũng nhọc nhằn không kém khi vật lộn mưu sinh chỉ còn là trong hơi thở ngắn, họ lại lao vào cuộc sinh kế khốn đốn đầy những rủi ro, trắc trở, những mưu toan, thậm chí thấp thoáng cả tội ác, lừa lọc, phản trắc…Kiếp nạn ấy là kiếp người!
Hắn cũng đã có những giây phút phiêu diêu, ngật ngưỡng trên những bãi biển rực nắng của Địa Trung Hải, bên các nàng tiên da nâu, mắt xanh khi trong túi rổn rảng mĩ kim. Có năm đen đủi, thất bát, hắn cũng đã đón những cái tết cô đơn, quạnh quẽ trong căn phòng bừa bộn, bẩn thỉu như chuồng lợn, gặm bánh mì đen, nốc thứ rượu uống vào xóc xuyên đỉnh đầu và muốn lộn mửa cả lục phủ ngũ tạng, lòng thầm mong cuộc viếng thăm của một ả điếm ế quen biết. Nhưng năm nay hắn quyết về thăm nhà. Lần cuối cùng gọi điện về, hắn đã phải lỗ mãng dập điện thoại để khỏi nghe tiếng khóc nỉ non của mẹ hắn, một người đàn bà khốn khổ cả đời mà chả vì lẽ gì, ngoài thói quen tổ tông truyền là phải giữ nghiêm đạo hạnh để người đời khỏi nhìn vào sự mọt rỗng đang ăn mòn sức lực và niềm vui ít ỏi của bà. Mặc dù làm ăn chỉ đủ nuôi cái miệng vốn không phải được nuôi dưỡng bằng những thứ cao lương mĩ vị gì từ thuở lọt lòng, song hắn đã vay mượn được một ít tiền để mua vé, mua quà cho người thân, và dĩ nhiên, có một cơ số nho nhỏ để rong chơi, nhậu nhẹt bên những em Hồng, em Nụ…Và để thoả cơn sĩ diện của những kẻ sống bên trời tây khi bị các cặp mắt hau háu ở nhà soi vào như chiêm ngưỡng cái sự may mắn vừa từ thiên đường rớt xuống…
Khi tuần bia thứ tư thay cho bữa rượu đã no nê chuẩn bị được đổ vào những cái thùng vỡ đáy qua các vòm họng đương rổn rảng tiếng nói cười thì cánh cửa xịch mở. Ông già bảo vệ ló đầu vào:
– Các ông có thư nhà!
Trong cái không khí hỗn tạp quanh quánh sặc mùi trần tục đủ cả tham, sân, si, thì hai chữ “thư nhà” vang lên như một tiếng chuông chùa trong vắt từ xa thẳm vọng về. Những khuôn mặt bóng nhẫy, đỏ ké chợt giãn ra, thừ thẫn. Có một khoảng lặng loang ra tựa vết dầu nhỏ…Rồi ai đó kêu lên thảng thốt: thư nhà! Sau đó là tiếng ồ à, tiếng cười, tiếng văng tục vì sung sướng, ngạc nhiên. Phải! Thư nhà! Hai tiếng đó rơi đúng lúc tâm hồn những kẻ lang thang có thâm niên như bọn hắn không có gì bảo hiểm để khỏi rơi xuống miền tăm tối của sự yếu đuối mà trong cuộc mưu sinh nơi đây không cho phép sa vào. Có thể chỉ là một lá thư thôi cũng đã là cả một miền quê đầy nắng gió, cả bờ biển ấp áp quanh năm, cả mối tình thiêng liêng nào đó đành rũ bỏ lại…Tất cả ở trong đó. Một nỗi niềm. Một tình yêu. Một món nợ không trả nổi. Một sự oán trách. Có thể cả một hận thù…Nhưng dù gì thì nó vẫn là sợi dây mong manh kéo gần sự thân thiết lại, nhất là trong buổi chiều Noel giá lạnh như thế này.
Bức thư nhầu nhĩ được một thằng tốt giọng đọc lên. Ấy là câu chuyện tình buồn nhuốm màu thời chiếm hữu nô lệ mà bọn hắn được nghe trước thềm thiên niên kỉ mới. Bức thư viết sai be bét chính tả và kể lể dài dòng tối nghĩa. Phải lắng nghe và sắp xếp lại mới hiểu được chủ nhân của nó muốn nói gì. Anh ta kể rằng, tên đích danh là Mịch, nhà ở một phố núi xa xôi. Có vợ và con gái lớn sang đất nước Đông Âu này đã hai năm. Nhưng đến giờ tuyệt không một dòng thư, không một lần điện thoại. Anh Mịch đã nhờ người làng cũng đang làm ăn bên đó tìm kiếm hộ, song vẫn biệt vô âm tín. Theo sự gợi ý của người này, anh viết thư nhờ tờ báo của bọn hắn đăng tin trong mục “Tìm người thân”.
“Các anh ơi hãy giúp bố con tôi với. Tôi đội ơn các anh!”- đó là câu cuối cùng khi anh Mịch kết thúc bức thư. Tất cả im lặng cúi đầu. Ai đó tợp một ngụm rượu lớn mà khi qua cổ họng thoáng nghẹn lại khiến phát ra một tiếng hực. Mục tìm người thân đã đăng quá nhiều tin tức kiểu thế này. Nhưng tất cả rơi vào im lặng. Và sau đó là chôn trong nấm mồ tập thể của sự lãng quên. 
Giọng khê đặc của một kẻ nửa say nửa buông rơi trong cảm giác của sự tuyệt vọng:
-Thì hãy đăng cho anh ta.
Giọng khác tỉnh táo trong nỗi chán chường:
-Cũng thế thôi dù có đăng hết năm này sang năm khác…Có khi cho đến tận kiếp sau.
Vò vò cái đầu hói nhẵn thín như trái dưa hấu loại bốn mươi xu một kilôgam, tổng biên tập nhìn hắn:
– Ông thử sang bên biên phòng xem họ có giam giữ hai mẹ con chị Tình không? Tiện thể, nhờ họ hỏi luôn bên cảnh sát xem sao?
Hắn loạng choạng đứng dậy, khoác áo. 
Mọi người ngạc nhiên nhìn hắn:
-Ơ, sao, đi luôn à? Giờ này không có ma nào tiếp ông đâu.
Hắn chẳng nói chẳng rằng bỏ đi luôn. Không còn hứng để nốc rượu nữa. Một cảm giác trống rỗng, ảo não đến độ có đưa hoa khôi hoàn vũ đến trước mặt hắn lúc này thì cũng không khiến hắn hứng khởi lên được. Kiếp nạn! Kiếp nạn! Hắn lẩm bẩm như một kẻ điên. 
Ra đến đường, nhẩy cầng cẫng dưới cái lạnh âm hai mươi độ hơn mười lăm phút mà vẫn không bắt được taxi, hắn đành mở cửa xe, tự lái lấy. Lòng thầm cầu Chúa đừng để tụi cảnh sát tóm được. Đêm nay là đêm Giáng sinh mà. Chúa lòng lành đừng để hắn bị bắt nhốt ít nhất cũng vài ngày về cái tội uống rượu cầm vô lăng thì mất toi cú về thăm nhà mà đã tốn công thu xếp.
Chiếc xe cà khổ khật khừ chạy trên con đường trơn tuột vì một lớp băng mỏng như tráng mỡ. Còn hắn ngất ngư sau tay lái. Con đường vắng hoe hoắt dài vô tận rực rỡ đèn màu và những cây thông ánh sáng trơ chọi chọc thủng màn đêm…Chả dám chạy nhanh vì bánh xe không bám được mặt đường. Vả lại không hiểu sao chính lúc này đây hắn thu mình thinh thích trong cảm giác cô đơn mang mang. Một nỗi cô đơn nồng nồng như men rượu mới nhấp thì thấy sợ và mềm môi tự lúc nào. Cả một chặng đường dài hình như chỉ có một ô tô đi ngược chiều. Ngồi sau tay lái là một kẻ chắc còn say hơn hắn vì cái xe như đang lẳng lơ khiêu vũ với hai bên đường. 
Sau một hồi cô đơn với con đường, hắn cũng mò đến được trụ sở đồn biên phòng. Đúng như dự đoán, chỉ có ba chú lính quèn ngồi trực bên một đống vỏ chai rượu lăn lóc, những đĩa dưa chuột muối héo khô và đám thịt hun khói thâm sì. 
Ngước nhìn hắn là những cặp mắt đỏ ngầu và một nỗi ngạc nhiên trợn tròn vọt ra thay cho câu hỏi. Nhàn nhạt màn sương do rượu phủ lên mấy con mắt tan ra, ba chú lính nhận ra hắn. Trước đây lính biên phòng ở đồn này đã mấy lần nhờ hắn đến dịch cho mấy vụ việc liên quan đến người Việt nhập cư bất hợp pháp, dùng visa giả, vượt biên…Kiếm và nhờ được một thằng phiên dịch tuyên thệ tiếng Việt ở những nước Đông Âu này nghe chừng còn khó hơn gấp bội thời xưa  đất Trung Nguyên bên Tàu tìm phiên dịch rợ Hung Nô. Nhất thân nhì thế, một chú lính tiếc rẻ dốc ngược cốc rượu uống cạn, uể oải đứng dậy vỗ vai hắn đi theo về phòng bật computer.
– Họ tên? – Chú lính biên phòng giọng khê nồng.
– Mẹ: Nguyễn Thị Tình, 35 tuổi. Con: Nguyễn Thị Tang, 17 tuổi. 
Hắn trả lời với cái giọng khấp khởi. Rồi hắn chợt bật cười vì cái sự khấp khởi trẻ thơ của mình chả khác gì mấy bác già đương bẻ đôi viên viagra dốc vào cổ với hy vọng lần này sẽ cho chất nước thải vượt qua khỏi mũi giày. 
– Mẹ kiếp! Không có! Nối mạng với bên cảnh sát cũng không! – Chú lính chửi đổng sau một hồi lạch cạch gõ máy – Hình như cả nước chúng mày mang cái họ Nguyễn thì phải? Còn chả thấy “Tình”, cũng chả thấy “Tang” nào cả…Mà mày cũng thừa hiểu là bọn người Việt chúng mày khi bị bắt, có mấy ai khai đúng họ tên đâu? Tốt nhất là đến từng trại giam mà tìm, may ra…
Gã biên phòng bỏ lửng câu nói, đóng máy đứng dậy, khạc một cái thật to và nhổ ngay xuống nền nhà. Hắn đứng im như cây thông noel ướp băng. Đúng vậy! Những người đồng hương của hắn khi bị bắt vì bất kì một tội gì, đều không bao giờ khai đúng tên tuổi. Chính quyền sở tại sau bao công sức lần mò điều tra, không xác định được nhân thân của họ đành phải thả ra, thay vì trục xuất. 
– Trại tị nạn gần nhất cách bao nhiêu kilômét? 
Hắn hỏi, cái giọng chán chường sau tác dụng thất bại của viagra. Thoáng trong đầu hắn tự diễu như vậy!
– Hơn năm chục. Nhưng chỉ có những thằng điên mới mò đến đấy vào đêm Noel bão tuyết này. Thôi, về mà ôm gái!
Gã biên phòng vừa nói, vừa nhìn hắn như đề phòng hắn sắp lên cơn điên thật. Ừ. Thì thôi. 
– Tao cũng không còn thời gian. Mai tao phải về Việt Nam rồi!
Hắn cám ơn rồi phảy tay và quay gót, không quên chúc mấy chú lính một Giáng sinh vui vẻ.
Hắn quay lại bàn rượu. Mọi người vẫn chưa rời khỏi đó. Nhưng hình như hôm nay không ai say. Càng uống càng tỉnh. Cái tỉnh lâng lâng níu tâm trí trên cái móc của những tính toán bất thành nhưng cũng không còn hứng khởi để nghĩ tiếp. 
Tổng biên tập lại vò vò cái đầu dưa hấu loại bốn mươi xu một kilôgam, nói bằng thứ giọng ảo não rất thiếu tự tin:
– Thôi, đành chịu vậy. Ngày mai ông về Việt Nam rồi, mình lại phải sang Paris thăm con gái, mấy cậu khác cũng đi Tiệp chơi sau Tết dương lịch mới về. Tạm thời ta cứ nhắn tìm trong số báo tới. Ông về Việt Nam cố gắng thu xếp thời gian xuống thăm gia đình anh Mịch, hỏi cho rõ hơn về hai mẹ con chị Tình. Nhớ lấy mấy tấm ảnh của hai mẹ con. Đây, chuyển cho gia đình anh ấy chút quà của báo, gọi là của ít, lòng nhiều.
Rồi ông ta đưa cho hắn tờ giấy màu xanh thân thuộc có in hình tổng thống Mĩ Franklin.
            Lần ấy về phép, chỉ kịp ở nhà hai ngày an ủi bà mẹ già lúc nào cũng nước mắt lưng tròng vì đau khổ, hắn đáp tàu lên mạn ngược. Cứ như thể có tiếng gọi tha thiết thăm thẳm nào đó từ phố núi âm thầm kia. Cũng nảy người tưng tưng trên cái ghế tàu hoả cứng như thép năm tiếng đồng hồ hắn mới có mặt ở trước dậu găng còn chưa xiêu xiêu như bây giờ. Cũng buổi chiều cuối năm phì phà mưa bụi. Cũng lưỡng lự trước cái sân đất nện đỏ au cau có dưới cơn mưa bụi…                              
 Chủ nhân của ngôi nhà và cũng là chủ nhân của bức thư là người đàn ông gầy guộc chống nạng dẹo dọ đứng dậy  nắm tay hắn nấc nấc:
-Quí hóa quá. Thôi thì trăm sự nhờ các bác giúp cho. Thân em tàn tật, tưởng cho hai mẹ con nó sang bên ấy làm ăn thì đỡ đần được đôi chút, nào ngờ… Đi biền biệt hơn hai năm giời mà chẳng thấy một nhời về. Không biết sống chết ra sao?
Rồi tiếng nấc dâng lên và cụt lại ngang họng. Hắn nhìn ái ngại người đàn ông tàn tật tuổi bốn mươi mang khuôn mặt già khô của ông già sáu mươi cạn sức, đang ngắn dài những giọt nước mắt to tướng như hạt ngô, chảy dài trên gò má, ngập ngừng mãi mà chẳng chịu rơi xuống đất. Nước mắt đàn ông, có lẽ nó mặn như máu và đặc hơn keo.
Hỏi chuyện, hắn được biết hai mẹ con chị Tình đã đi từ tháng chín năm 1997. Đường dây đưa người làm hộ chiếu cho họ vào Nga, rồi từ đó sẽ vượt biên sang đất nước mà hắn đang sinh sống. Thấy vợ và con đi lâu quá không có tin tức gì, anh Mịch đã lần mò xuống tận Hà Nội để hỏi thăm. Nhưng đường dây đưa người bất hợp pháp bị lộ, kẻ bị công an bắt, kẻ chạy trốn ra nước ngoài. Không gặp được ai để mà bấu víu, anh đành lọc cọc chống nạng ra về. Hắn hỏi xin bức ảnh của hai mẹ con chị Tình. Mịch mở tủ, lấy ra mấy chiếc ảnh cỡ 4×6, nói đó là ảnh chụp làm hộ chiếu trước khi lên đường. Nhìn người phụ nữ nông thôn có vẻ đẹp hiền hậu, lam lũ, nhẫn nhục qua đôi mắt to, đen láy, buồn rười rượi và đứa con gái mới lớn mơn mởn đầy vẻ háo hức, hắn kín đáo lắc đầu thở dài. Vốn chứng kiến nhiều chuyện đau lòng xảy ra với những người vượt biên, hắn mơ hồ đoán cái gì đã đến với mẹ con người đàn bà này.
Hắn đưa cho Mịch số tiền đã chuyển đổi từ một trăm đôla nói là quà của tờ báo gửi tặng. Người đàn ông cầm số tiền run run, những giọt nước mắt to như hạt ngô cũ chưa kịp rớt xuống lại cõng thêm những hạt mới, chảy thành dòng chan hoà trên gương mặt đang giật giật vì xúc động. 
Tối hôm ấy hắn ở lại ăn cơm với ba bố con anh Mịch. Bữa cơm chỉ có đĩa đậu phụ luộc, vài hạt lạc rang, mấy cọng rau hái ngoài vườn với lời thanh minh rằng không còn mỡ để rán đậu đãi khách đường xa tới. Hóa ra nhà anh có nghề làm đậu phụ gia truyền. Hồi chị Tình và con Tang còn ở nhà, hai mẹ con vẫn làm đậu phụ bán cho dân phố núi và những vùng lân cận. Cuộc sống cũng tiềm tiệm, nhưng thấy mấy người quen sang châu Âu làm ăn phát đạt, họ cũng mơ đến một cuộc đổi đời. Ai ngờ…
Gắp cho hắn miếng đậu phụ mịn nuột như da con gái tuổi trăng rằm, giọng Mịch nghèn nghẹn:
– Nhà tôi vốn gốc gác ở Kẻ Mơ. Thời chiến tranh chống Pháp, ông nội cô ấy đi Vệ quốc quân, bén duyên cùng cô gái miền bán sơn địa, nên ở lại lập nghiệp xứ này. Nhà tôi khéo tay, làm đậu ngon có tiếng. Cái nghề làm đậu vất vả lắm, lấy đêm làm ngày, phải dậy từ canh hai. Người đàn bà như cô ấy chỉ ăn với chồng nửa bữa, ngủ với chồng nửa đêm…Từ ngày mẹ con cô ấy đi, ba bố con tôi vẫn hàng đêm hì hụi ngâm đỗ làm đậu để sống qua ngày. Nhiều khi nghĩ đến hai mẹ con nó lòng đau quặn, cũng chỉ biết cắn răng khóc một mình. Nghe người ta nói, lúc vượt biên lắm người bị cho vào xe tải ngạt hơi mà chết, có người thì bị bắt, bị cầm tù. Nếu từ giờ đến cuối năm mà không có tin tức gì, thì chắc hai mẹ con nó đã chết mất xác ở nơi nào đó rồi. Ba bố con tôi sẽ lấy ngày mẹ con nó đi làm ngày giỗ.
Miếng đậu hắn đang nhai trong miệng nghẹn ngắc ngứ. Biết nói gì với người đàn ông này đây? Nói rằng con đường tìm đến miền đất hứa của những người đồng bào như hắn và vợ anh ta rất có thể là chết chóc, tù tội, bị đem bán làm gái…Là cả ngàn lẻ một lí do có thể xảy ra. Lý do nào cũng đầy nước mắt.
Ba giờ sáng, hắn phải ra tàu. Phố núi nghèo vẫn chìm trong giấc ngủ vùi. Trời gai gai lạnh, sương mù từ dãy núi đá phà hơi giá buốt, dăng dăng như rải khăn xô rờn rợn. Lọc cọc chiếc nạng gỗ, Mịch cùng hai đứa con gái nhỏ tiễn hắn ra ga. Trước khi tàu chạy, anh thả rơi chiếc nạng xuống đất, dùng hai tay ôm lấy hắn, khóc nức nở như một đứa trẻ không biết kìm giữ:
-Anh thân tàn ma dại, đường xá lại quá xa xôi cách trở, chẳng biết cậy nhờ ai. Lạy chú! Cố bớt chút thời gian tìm chị và cháu cho bố con anh! Dù còn hay mất, xin cũng báo cho anh được biết. Kẻo anh chết không nhắm được mắt, chú ơi!
Con tàu hét lên một tiếng thất thanh rồi rùng rùng chuyển bánh. Bóng dáng liêu xiêu của cha con anh Mịch chập chờn dưới ánh đèn vàng vọt trên sân ga xa dần…Dải khăn xô mờ mịt dệt bằng sương núi quấn lấy họ kéo xa, xa mãi…Trời đêm ấy không có trăng, cũng chẳng có sao…
Hết phép, hắn quay lại châu Âu với những thông tin chẳng có gì hơn về người đàn bà với một đứa con gái đang mất tích, để lại niềm hy vọng mong manh trong cơ thể tàn tật của người chồng và ba đứa con dại.
Hắn và những người bạn trong ban biên tập tận dụng tất cả những mối quen biết để tìm mẹ con chị Tình. Hầu như không có trại tị nạn nào mà họ không mò đến, không có hồ sơ cảnh sát nào về những người Việt vượt biên bị giam giữ mà họ không cậy cục để tìm hiểu. Hắn cũng đã nhờ những tờ báo tiếng Việt ở các nước lân cận đăng tin tìm kiếm và cho số điện thoại của mình để liên lạc. Nhưng tất cả vẫn chỉ là một sự im lặng nặng nề, cái im lặng của một kiếp người mất hút trong cõi nhân gian. 
Thời gian cứ vô tình trôi…Đã ba năm hắn và bạn bè kiếm tìm trong vô vọng. Rồi tuyệt vọng. Cuộc mưu sinh nhọc nhằn nơi đất khách quê người không cho họ có nhiều thời gian để kéo dài thêm khi niềm hy vọng mỗi ngày cụt đi. Đám thám tử nửa mùa làm trận rượu ảm đạm mang hơi hướng của một bữa cỗ đám ma để tiễn đưa vong hồn hai sinh linh tội nghiệp. Rồi sau đó trong mọi câu chuyện tán gẫu hàng ngày, họ cố tránh không nhắc đến hai mẹ con người đàn bà xấu số này nữa. Riêng hắn, trong thâm tâm vẫn thấy mình là kẻ bạc tình ác độc mỗi khi nhớ đến khuôn mặt nghẹn ngào của ba bố con anh Mịch, cũng như cái nhìn cầu khẩn thấp thoáng niềm hi vọng mà họ đã vô tình biến hắn thành vị cứu tinh của họ. Có những đêm hắn giật mình tỉnh giấc vì chợt nghe tiếng gọi “Mẹ ơi” thảng thốt từ cõi xa xăm vọng về.                       
Lại một Noel nữa đã đến…Hắn nằm khàn ngán ngẩm nhìn chai rượu chỉ còn một phần tư và mẩu bánh mì đen khô cứng như đá nằm lăn lóc trên bàn. Suốt mấy năm nay, công việc làm ăn thất bát, hắn chẳng có tiền về thăm nhà. Cũng chả thấy mảy may luyến tiếc cái dư vị ngọt ngào của làn da nâu thiếu nữ có ánh mắt xanh như đại dương trên bãi biển Địa Trung Hải ngập nắng. Dường như những thứ tưởng như tuyệt vời nhất cũng khiến người ta trễ nải khi họ chán ngán chính bản thân mình. Hình như hắn đã cạn hơi sống…    
Năm nay tuyết còn khủng khiếp hơn cái năm bọn hắn nhận được lá thư xa lạ kia. Trời mù mịt những tuyết và tuyết. Gió thì gào rú điên dại muốn bốc tung đám người chen chúc trên hành tinh chật chội này hất lên trời. Chẳng còn hội họp để rượu làm tan chảy nỗi buồn. Chẳng còn ước muốn tìm đến ai đó để qua giây phút nao nao. Buồn, vui cứ xêm xêm lẫn lộn. Lạ thế! Tất cả tự rời tìm một chỗ nào đó miễn sao nỗi buồn không còn cơ tăng trọng. Hắn, một con quỉ cô độc không còn trẻ nhưng chưa già lầm lũi  trong căn phòng cũ rích với bốn bức tường đã tróc lở sơn. Hắn thấy thương thân như thương kẻ nào đó hẩm hiu đang chờ một bàn tay đưa ra dắt ngang qua ngõ tối ẩm ướt. Buồn và lo cho số phận chẳng mấy chịu yên. Thương cái tương lai ảm đạm đang đón chờ. Đã sắp bốn mươi tuổi rồi còn gì. Không tiền, không tình, không sự nghiệp. Vậy mà mới ngày nào phơi phới tuổi mười tám yêu điên cuồng, chơi điên cuồng và lao vút về tương lai để dàn xếp cả một kế hoạch như sắp sửa lên định cư trên mặt trăng…Hắn cười gằn một tiếng, cầm chai rượu ngửa cổ chờ đợi hàng mấy phút giọt rượu cuối cùng rớt thẳng vào cuống họng, rồi ném cái vỏ chai vỡ tan vào góc nhà, nằm vật xuống giường. Thế là hết, đến cả tiền mua rượu hẩm cũng chẳng còn. Tự nhiên nước mắt ứa ra… 
Chợt chuông điện thoại reo vang sau một tuần lễ hắn đá văng nó vào nơi im lìm xó bếp. Hắn vọt ra khỏi đống chăn nhầu nhĩ, nhạt hơi đàn bà, nhảy đúng hai bước tới vồ lấy ống nghe. Bùng lên một nỗi mừng vỡ ngực khi thằng bạn từ bên Mĩ báo tin sẽ sang đông Âu du lịch xả hơi. Hắn vui vì sắp được gặp lại người bạn thuở thiếu thời sau bao năm xa cách. Khoái hơn nữa vì thằng này thông báo là sẽ giành một khoản tiền kha khá sau nhiều năm cắt cỏ, rửa bát để cho hắn vay làm vốn mà tính toán làm ăn…”Số còn lại tao sẽ bao mày một tuần xả láng. Rượu. Gái…Tuỳ mày thích. Tao chiều tất!”. Tất nhiên hắn hiểu rằng rồi tiếp theo đó lại là những tháng ngày cắt cỏ, rửa bát, rửa bát, cắt cỏ, cả hót phân chó…Cũng thấm đẫm nỗi tủi nhục ê chề mỗi khi cám cảnh nghĩ về tương lai và những ước mơ động trời thuở xưa khi bọn hắn nằm nhai bánh mỳ đen và mơ trở thành Bill Gates. Niềm tin ấy có lúc đông cứng lại không gì phá vỡ nổi…Giờ không cách gì khơi gợi nó lên nổi, dù chỉ như bong bóng xà phòng.  
Thắng bộ cánh được coi là tươm tất nhất, dấp một ít nước lã lên đầu để trị mấy sợi tóc hiếm hoi lúc nào cũng lơ thơ ngúc ngắc khiến hắn luôn phải bận lòng. Hắn chúm môi huýt sáo một điệu nhạc vui và khệnh khạng bước ra khỏi căn phòng ám mùi thuốc lá rẻ tiền. 
Mất hơn mười phút mới cào xong đám tuyết dầy chôn kín chiếc xe tội nghiệp đứng thu lu ở góc sân chung cư. Nếu không nhìn kỹ thì khó biết được dưới lớp tuyết đó là chiếc xe tội nghiệp mà cả tháng nay không được thằng chủ đặt đít ngồi vào. Nó phạm một tội kinh người là không chạy được bằng nước đái, bởi hắn làm gì còn tiền mua xăng. Sau vài tiếng kêu khào khào cạn hơi, chiếc xe khẽ rùng mình phành phạch nổ. Nhìn kim đồng hồ báo nhiên liệu đã ở dưới vạch đỏ, hắn nhẩm tính ít ra cũng còn chạy được khoảng hai chục cây số nữa. Mà đường ra sân bay giỏi lắm chỉ khoảng mươi cây. Hắn yên trí lớn, nhấn ga, cua một đường điệu nghệ, lại chúm môi cử một điệu nhạc vui và vớt lại tình yêu đời đang gần chết đuối trong nỗi chán chường dai dẳng.
Sau cái ôm rất chặt, thằng bạn ngẩn ra nhìn. Dường như đã cố dấu vẻ thiểu não, vậy mà hắn vẫn không thoát khỏi sự soi mói của thằng bạn một thuở ôm nhau ngủ qua cái đói, cái lạnh thời sinh viên như hai gã đồng tính. Hắn đành méo mó cười đáp lễ rồi dẫn bạn ra xe.
Đúng là người Mĩ có khác! Hắn suýt reo lên và nhảy cẫng đâm thủng trần xe khi thằng bạn đưa ra một đề nghị vô cùng hấp dẫn: “Nhậu một trận đã đời rồi đi đến xóm chị em!”. Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, hắn thầm cảm ơn Thượng đế. Đã cả tháng nay hắn phải nằm “phơi củ cải” trong căn phòng ẩm thấp, hôi rình sặc mùi khói thuốc. Được lắm, gì chứ cái khoản ăn chơi thì hắn quá rành, chỉ mỗi tội thiếu tiền mà thôi. Nhưng mà, nhưng mà…Thoáng một chút sĩ diện còn sót lại bỗng nhu nhú như đầu vú thiếu nữ cọ vào tâm trí hắn. 
Hắn dẫn bạn tới một “động” ở trung tâm thành phố do Hinh – gã “bộ đội”(*) người Việt quản lí. Thằng chủ “động” này đã đôi lần dính vào vòng lao lí vì kinh doanh mại dâm trốn thuế. Khi được cảnh sát mời đến phiên dịch, hắn đã khéo léo mớm cung và dịch thoáng những lời khai, sao cho nhẹ tội nhất. Hinh ơn hắn lắm. Biết cái thằng nhà báo nửa mùa vốn chỉ là một kẻ hàn sĩ trên răng dưới cát tút, Hinh khéo léo dúi cho hắn một ít tiền và nói: “Bất cứ khi nào huynh có “nhu cầu”, hãy tìm đến đệ. Đừng lăn tăn chuyện tiền nong làm gì!”. Hắn không nhận tiền và cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Nhiều lần muốn lắm nhưng còn chút cặn danh dự của kẻ sĩ bắc hà còn đọng lại, hắn đã không tới đây để chơi gái quịt tiền.
Đúng như hắn dự đoán, Hinh đón tiếp hai thằng như thượng khách. Bóc chai John xanh, nó kính cẩn cúi đầu cụng li:
-Xin kính chúc sức khỏe hai huynh. Mời dùng rượu, rồi đệ sẽ gọi em út ra cho các huynh lựa chọn. Đúng lúc đệ vừa có đợt “hàng Nga”, toàn loại thơm non như cốm vòng, xin dâng hai huynh dùng thử. Nhưng nói trước, là cho phép đệ đãi đằng đấy nhé!
Hắn vội xua tay và nói bằng thứ giọng trên tiền:
-Ấy, chú đừng làm thế! Bạn anh là một triệu phú bên Mĩ qua chơi. Cha ấy không thích xài của chùa đâu.
Hinh lại kính cẩn vâng dạ rồi vào phòng trong. Lúc chỉ còn lại hai thằng, “ngài triệu phú cắt cỏ, hót cứt chó” huých tay hắn, hỏi nhỏ:
– Sao nó lại biệt đãi mày như thế?
Hắn khẽ nhếch mép khinh khỉnh nói phét bằng thứ giọng bề trên:
– Ờ, thì em út cả mà! Mày ở bên đó thiếu cái khoản này, chứ tao ở đây đã ngấy đến tận cổ rồi…Không còn sức để mà hầu mày nữa đâu. Xin cứ tự nhiên!
Rồi ngửa cổ làm ra vẻ mệt mỏi chán ngắt phà một hơi xì gà trước cái nhìn ngẩn ngơ của thằng bạn “triệu phú” đang dõi theo hắn.
Thoáng sau, sáu em gái thuộc dòng Slavơ non mỡ như bắp ngô trổ cờ đứng xếp hàng ngang cho bạn hắn lựa chọn. Gái Nga bao giờ cũng là một món ăn khoái khẩu không bao giờ chán của hắn. Nhưng đã trót nói phét với bạn, hắn đành nghiến răng bấm bụng, ra cái vẻ không thiết tha gì. Khấn thầm rằng giá mà thằng bạn nài nỉ là hắn sẽ giả bộ miễn cưỡng gật đầu. Nhưng cái thằng người Mĩ rởm trời đánh kia không chịu hiểu ý. Thấy hắn tỏ vẻ thờ ơ, nó giơ tay chào sau khi chấm được một em vừa miệng rồi cùng nhau mất hút sau cánh cửa bọc nỉ màu đỏ sẫm.
Hắn lòng dạ cay đắng ngổn ngang ngồi uống rượu suông với Hinh trong khi đợi bạn. Chợt thấy trên tường có treo một bức phù điêu pháo đài Brest bằng vàng ròng, hắn thốt lên:
-Chú mày kiếm đâu ra bức phù điêu này thế? Của hiếm đấy, nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày được phong pháo đài anh hùng, người ta chỉ sản xuất năm mươi cái để tặng thôi, chứ không bán đâu.
Hinh nhìn hắn bằng ánh mắt khâm phục:
-Chịu thật, cái gì huynh cũng biết. Trong một lần nằm đợi “hàng” bên đó, đệ lang thang ra chợ và mua được của một ông cụ cựu chiến binh thời chiến tranh Vệ quốc. Ông ấy được người ta tặng, nhưng đói quá, phải đem bán để lấy tiền ăn. Cái thứ huân, huy chương, các kỉ vật thời chiến và Liên bang Xô viết bày đầy bán cho du khách. Có thứ là hàng nhái vì thấy người ta mua nhiều quá nên làm thêm để bán…Nhưng cái này của đệ là trăm phần trăm đồ thật.
Hắn hỏi tiếp cho có chuyện:
-Thế hồi trước chú mày sang bên đó làm ăn à? Buôn hàng gì thế?
Hinh nháy mắt:
-Hàng sống.
Hắn ngạc nhiên:
-Là hàng gì?
Hinh phì cười:
-Là người chứ còn gì. Dạo đó đệ chuyên đưa người vượt biên từ Nga, Belorusia và Ukraina qua đây. Mãi tới cuối năm 97, đệ bị bắt, ngồi tù ba năm rồi giải nghệ. Cái nghề ấy thất đức lắm nên kiếm được bao nhiêu thì đồng tiền cũng có chân chạy mất…Giờ về chăn gái phục vụ các quan anh, nhàn mà không nguy hiểm. Có đàn ông thì phải có đàn bà. Luật trời là thế…Chả may đen thì bị nhập trại mấy tháng, chứ không phải mấy năm.
Hắn vỗ đùi đánh đét:
-Hay quá, tao đang định làm một thiên phóng sự về chuyện này, nhưng chưa thu thập được đủ tư liệu. Chú giúp tao nhé!
Hinh mắt tròn mắt dẹt nhìn hắn:
-Chuyện viết lách của huynh, đệ biết gì mà giúp?
Hắn động viên:
-Chú chỉ cần kể cách thức vượt rừng, tổ chức đưa đón, tiền nong ra sao. Còn lại là việc của tao.
Hinh nhìn hắn cảnh giác:
-Thôi, đệ xin kiếu. Huynh mà viết lên báo thì bọn cảnh sát sẽ bới lông tìm vết, đệ có tù cả đời.
Hắn lại ngạc nhiên:
-Thì chú mày đã ngồi ba năm rồi còn gì mà phải sợ. Chả lẽ họ bắt tù lại?
Hinh lắc đầu:
-Ba năm là cái án dành cho tội tổ chức đưa người vượt biên trái phép. Chứ nếu bọn cảnh sát mà biết trong đợt vượt sông ấy có hai người thiệt mạng thì đệ còn khốn nạn nữa. Cũng may mà hai mẹ con mụ ấy chết mất xác.
Hắn giật nảy người:
-Cái gì? Chú nói là có hai mẹ con bị chết à?
Hinh nhìn hắn ngạc nhiên:
-Sao mà huynh phải nhảy dựng lên như bị vợ “song phi” thế? Chuyện thường ngày ở cái xứ này, gì mà ngạc nhiên? Mới tuần trước tivi đưa tin có hơn bảy chục thằng Tàu nấp trong xe đông lạnh chở thực phẩm định vượt biên vào Anh, bị chết cóng cả lũ. Phi vụ của đệ chỉ chết có hai người thì thấm vào đâu. Hai mẹ con bà ấy đen hơn quạ. Nằm cả tháng bên Ukraina không sao, đúng hôm lên đường thì đứa con gái lăn ra sốt.
Lần này thì hắn thực sự cuống cuồng:
-Mẹ và con gái à? Tên họ là gì, chú có nhớ không?
Hinh sợ hãi nhìn hắn:
-Huynh sao thế? Người nhà huynh à? Có phải lỗi tại đệ đâu. Đúng lúc ra đến giữa sông thì đèn pha bật lên sáng lóa. Tất cả nhảy ùm xuống nước để trốn, nhưng tụi biên phòng dùng xuồng máy đuổi theo bắt lại bằng hết. Chỉ có mỗi hai mẹ con bà ấy thì không thấy đâu. Đệ đoán là không chết đuối thì cũng chết rét, vì dịp ấy đang giữa tháng mười, nước sông lạnh sun người. Đứa con gái lại đang sốt.
Hắn lắp bắp:
-Không, không, chú đừng sợ. Anh không làm gì chú đâu. Chẳng qua có người viết thư nhờ tờ báo bọn anh hỏi thăm tin tức của người nhà. Anh tìm đã ba bốn năm nay rồi mà không thấy. Nay nghe chú kể, anh ngờ là họ thôi…
Hinh nhìn hắn vẻ yên tâm lại:
-Kể cũng thương. Nhiều khi đệ thấy ân hận, nhưng biết làm sao được. Rõ ràng không phải lỗi tại đệ mà.
Hắn vội vã gật đầu:
-Thì đã đành…Anh chỉ thấy thương họ phận hẩm thôi…Nhưng chú còn nhớ mặt họ không?
Thấy hắn tỏ thành thật, Hinh lấy lại tự tin:
-Nhớ chứ. Đấy là chuyến hàng cuối cùng của đệ mà.
Trống ngực muốn đập vỡ lồng ngực vâm vam của hắn nhưng hắn vẫn phải tỏ bình thản, ngồi yên như núi để Hinh khỏi tịt mạch chuyện đang phun ra.
-Bây giờ anh về lấy ảnh của họ cho chú xem. Nếu đúng thì để anh báo về cho gia đình họ ở nhà mà biết ngày cúng giỗ. Thôi, họ đã chẳng may làm ma không mồ, thì cũng phải được tí hương khói cho đỡ tủi, mà cũng khỏi về đây oán chú. Còn anh cũng thanh thản vì đã giữ được lời hứa…Chú đồng ý chứ?
Hinh lặng lẽ gật đầu.
Hắn hồi hộp và xúc động đến mức không thể cầm được vô lăng nên bắt đại một chiếc taxi. Người lái xe phát cáu vì hắn luôn mồm giục đi nhanh hơn. Đến chân chung cư, bảo lái xe đợi một lát rồi tính bao nhiêu tiền cũng trả, hắn phóng ba bậc cầu thang mỗi bước. Ngã dúi dụi, cuống cuồng. Vứt tung đống sổ sách trên giá, sục sạo đến toát mồ hôi. Tuyệt vọng đến nghẹn thở vì mãi không thấy. Mồ hôi ướt đầm hai lớp áo bên trong…Rồi hắn rú lên khi bất ngờ một gương mặt đàn bà có đôi mắt tròn tròn nấp sau một tờ giấy thập thò nhìn hắn…Hắn gần như được bốc ra khỏi căn hộ và trượt xuống mấy tầng cầu thang để lao ra đường với một nỗi phấp phỏng là chiếc xe taxi đợi lâu đã bỏ đi mất. Nhưng gã tài đang gà gật sau tay lái chợt giật bắn mình khi hắn nhảy bổ vào xe. Sau câu lầu bầu chả rõ tiếng, chiếc xe lao đi. Hắn phởn chí vỗ vai gã tài khiến gã quay sang hắn nhìn như kẻ mất trí.
Vừa nhìn thấy hai tấm ảnh, Hinh nói ngay:
-Đúng là họ!
Mặc dù đã tự nhủ lòng từ trước nhưng hắn vẫn bật ngửa người ra phía sau chiếc đi văng. Lặng đi. Dường như vừa có một cái gì đó âm thầm rớt xuống khiến lòng hắn trống trải, buồn não. 
Dễ đến dăm phút trôi qua, hắn mới hỏi Hinh bằng thứ giọng khản đặc:
-Hôm ấy chú dẫn họ vượt biên ở chỗ nào?     
-Sông Húc, thị trấn K. 
Ngay hôm sau, hắn nói với thằng bạn rằng hắn phải đi về thị trấn K. với một lí do đầy nước mắt, khiến thằng bạn đành tạm biệt những bắp ngô non dòng Slavơ lên đường cùng hắn. 
Thị trấn vùng biên ải hiu hắt lạnh lẽo chả khác gì sao Hoả trong ngày cuối năm. Bầu trời ảm đạm vô sắc. Tuyết trắng xoá trải căng như lớp da thây người chết vì bị hút cạn máu. Suốt dọc đường thằng bạn ngủ gà gật sau một đêm hoan lạc không biết lường sức. Mình hắn rong ruổi với cái đầu ong ong những câu hỏi chả biết đường nào mà trả lời. 
Sau khi gửi thằng bạn vào một khách sạn để nó ngủ lấy sức cho ngày mai hoan lạc mà nó còn chưa tận hưởng hết, việc đầu tiên là hắn mò ngay đến đồn biên phòng, sau đó là đồn cảnh sát và bệnh viện. Nhìn vẻ mặt thiểu não đầy vẻ khẩn cầu và ánh mắt tha thiết của hắn, những người trực ban hôm đó động lòng trắc ẩn lục tủ hồ sơ lưu trữ ra xem xét rất kĩ lưỡng rồi nhìn hắn bằng cặp mắt thương cảm kèm một cái lắc đầu. Không chỗ nào ghi nhận trường hợp mất tích hoặc đã từng chôn cất xác chết của hai người phụ nữ da vàng nào.
Hắn đến bên bờ nhìn hồi lâu rồi chậm rãi bước ra khoảng giữa lòng sông. Nếu ai chưa một lần tới đây thì khó biết được rằng dưới lớp băng giá lạnh kia, từ ngàn đời nay chỉ có vài tháng trong năm nước sông đầy ăm ắp chả mấy khi được sưởi nắng. Một dải băng trắng xoá vô tận…Chị Tình ơi, liệu chị có đang nằm dưới hàng chục, hàng chục mét băng tuyết kia không? Liệu chị có hiểu là tôi đã đến đây những mong được gặp mẹ con chị biết chừng nào không? Có lẽ Hinh đã  đúng khi cho rằng mẹ con chị chết mất xác nơi đây thật rồi! Tôi biết phải nói sao với bố con anh Mịch đây? 
Lần đầu tiên sau mấy năm tìm kiếm, hắn cay đắng chấp nhận một sự thật như thể chấp nhận sự hiển nhiên, cái chết là điều tất yếu duy nhất của đời người. Đã chìm tới tận cùng của tuyệt vọng hắn bỗng trở nên tỉnh táo, cái sự tỉnh táo cay đắng không còn nhức nhối.  
Sau khi trở về căn phòng bừa bộn vẫn còn đang ủ mùi thuốc lá rẻ tiền, hắn sắp tạm một bàn thờ trên mặt tủ. Chẳng có hoa, chẳng có mâm cơm gọi là, chỉ có ba quả táo mua vội, một cây nến và ba nén hương trước tấm ảnh nhỏ chưa bằng nửa bao thuốc lá của mẹ con chị Tình. Cũng chẳng biết khấn vái thế nào cho phải phép, hắn chỉ biết đứng nhìn hai đôi mắt trên mặt tủ đang hướng về mình trong chập chờn khói hương. Thôi thì cũng gọi là xong một kiếp người mong manh như lá, phải không chị Tình? Chỉ tội chị đã đi xa quá, xa cái phố núi bé nhỏ ảm đạm để đến một miền biên ải xa lạ cũng ảm đạm không kém để gửi hồn về trời. Chị đã tới cái đích cuối cùng của cuộc đời. Dù đau đớn và khốn khổ thì chị cũng đã tới cái đích ấy trước tôi. Ai chả một lần phải đến…
Đêm khuya ấy hắn ngồi vào bàn viết thư, một lá thư khó khăn nhất trong đời từ trước đến giờ. Hắn kể hết cho anh Mịch những chuyện hắn đã được biết. Mặc trong lòng tuyệt không còn mơ hồ một làn khói hi vọng, nhưng hắn vẫn cứ nói với bố con anh Mịch rằng đừng tuyệt vọng. Rằng cuộc đời đầy những bất trắc rủi ro, nhưng cũng bao nhiêu sự bất ngờ tuyệt diệu. Rằng nếu biết nuôi hi vọng thì đâu đó một ngày điều ta chờ đợi sẽ tới…Đọc lại lá thư, ô hay, như thể hắn đang nói với chính mình. Bởi chính hắn cũng đang khắc khoải mơ hồ về một ngày mai…
Đêm ấy hắn ngủ một giấc ngủ dài mà không bị tỉnh giấc giữa chừng. Những đêm sau đó cũng vậy. Ba bố con người đàn ông phố núi và hai linh hồn đàn bà mà hắn đã đưa tiễn dường như biết chấp nhận số phận lùi ra khỏi tâm trí hắn, nhường chỗ cho những lo toan khác. Vậy là những cơn mê ám không còn cơ tìm về…
Mùa hè năm sau, hắn có việc phải về K. Có một toán người vượt biên vừa bị bắt. Trong số đó có ba người đồng bào của hắn. Đồn biên phòng K điện cầu cứu nhờ tìm người phiên dịch. Đám phiên dịch tuyên thệ từ chối đây đẩy vì ngại đường xa và công sá ít ỏi. Người ta gọi nhờ cậy đến hắn. Đương nhiên là hắn nhận lời phần vì không quá bận với các phi vụ làm ăn mà hắn vốn không mấy mặn mà, phần vì lòng trắc ẩn quằn lên khi nghĩ số phận họ có lẽ may mắn hơn số phận mẹ con chị Tình chăng? Hoá ra hắn vẫn chưa quên được họ. Họ vẫn gom nỗi đau đớn của hắn mỗi khi có dịp. 
Trước khi đi hắn đã tính đến K vào lúc xế chiều. Nghỉ ngơi buổi tối và sáng sớm hôm sau sẽ đến đồn biên phòng làm việc. Nhưng đang lướt trên con đường như lướt trên đệm khí, cắt ngang cánh đồng lúa mì rừng rực màu nắng, chợt hắn phải phanh dúi dụi vì chiếc xe phía trước khực lại bất ngờ. Hắn mở cửa xe bước ra ngoài nhìn…Trước mặt là cả một đoàn xe dài hàng cây số như một dãy bọ hung im lìm gục đầu vào nhau.
-Có chuyện gì thế? – Hắn hỏi người lái xe tải ngậm cái tẩu to bằng nắm đấm phủ kín gần hết mặt, phả khói như đám cháy.
-Tai nạn giao thông. Hai công te nơ bị lật, nằm ềnh giữa đường. Kiểu này may ra đến tối mới thông xe được. –“Nắm đấm” chán nản lắc lắc và lại phả một đám khói mù mịt vào mặt khiến hắn suýt sặc. – Mày về đâu? 
“Nắm đấm” xoay cái tẩu sang phía khác khi thấy cổ họng hắn hục hặc ho và lùi ra xa.
-Về K. – Hắn đáp.
-Thế thì quay lại khoảng ba km, rẽ phải, men theo con đường làng rồi đi dọc bờ sông Húc sẽ đến được K. Đường ấy cấm xe tải thôi, chứ xe con như của mày thì tha hồ lướt. – “Nắm đấm” tận tình giải thích.
Hắn cảm ơn và lập tức quay đầu xe.
Chiếc xe luồn lách trên con đường làng. Hắn chạy chầm chậm, thích thú ngắm nhìn những vườn anh đào căng mọng, đỏ rực dưới cái nắng nồng nồng  tháng Sáu. Bên dưới những gốc cây, trên những đám cỏ mượt mà có khá nhiều đám đàn bà mặc bikini nằm tênh hênh, ngồn ngộn những thịt là thịt, loá lên với những đốm nắng xuyên qua tán lá. Giá mà không vội vã thế nào hắn cũng dừng xe để làm quen với một ả nào đó. Việc này không nằm ngoài sở trường của hắn. Mẹ kiếp, chả bù cho những kiều nữ ở xứ hắn, khi ra đường cứ phải che chắn kín mít, trông chả khác gì các góa phụ đen trong đội quân cảm tử của một vài xứ Hồi giáo. Hắn cố tình cho xe chạy chậm lại, để cặp mắt cần mẫn đánh võng trên các tấm thân ngọt ngào gợi cảm. Thôi thì cũng là cách hưởng thụ trời cho khi không có cơ hội thể hiện khí phách nam nhi. 
Nỗi dam mê của đôi mắt chợt tắt lịm khi một quán bar hiện ra bất ngờ trên con đường làng vắng vẻ. Mùi thơm ngào ngạt toả ra khiến dạ dày hắn lập tức nối mạng. Cái nết háu đói từ bé đố mà sửa được đã từng bao lần hành hạ hắn những khi nhẵn túi giờ ngúc ngắc ngóc dậy. Hắn phanh gấp khi chiếc xe chờm qua quán bar mất vài mét. 
-Ông dùng gì? Một chút bia nhé?
Cô hầu bàn có cặp mông tròn căng như hai trái bóng độn dưới lớp váy mỏng nhún nhảy trên đôi chân thon dài, đong đưa đôi mắt lúng liếng nhìn hắn.
Không kìm được, hắn buông lời tán tỉnh:
-Một vại bia lạnh và món chân giò hầm kiểu Slask. Mà thôi, tốt nhất là món chân giò sống ấy!
Hắn đánh mắt xuống đôi chân nâu rám vì phơi nắng mọc ra từ chiếc váy ngắn vừa đủ che hai trái bóng bên trên.
Cô hầu bàn khẽ mỉm cười duyên lẳng lơ, phô hàm răng trắng muốt, mắt nheo nheo đồng loã với gã trai châu Á lạ hoắc là hắn rồi mới bỏ đi. 
Đặt vại bia phủ mờ hơi lạnh lên bàn, cô ta còn cố tình cúi đầu thật thấp, để lộ khoảng ngực trắng ngần dâng dồn lên che kín mặt hắn. Sợ mình hoá rồ lên và sẽ ôm chầm lấy cô ta, hắn bèn vớ vại bia, tu đánh ực một hơi dài cho “hạ hỏa”.
Đôi môi căng mọng ghé sát mặt hắn:
-Ở quán này có một món ngon lắm. Chắc chắn anh sẽ thích. Anh muốn thử không?
Nhanh chóng chuyển từ “ông” sang “anh”, cô ta còn kéo dài chữ “thử không” và cười đầy vẻ khiêu khích.
Mồ hôi túa ra như tắm. Bây giờ cô ta có dẫn hắn xuống địa ngục để cùng chui vào vạc dầu thì chắc hắn cũng mộng du mà theo. 
-Món gì của em anh cũng OK! 
Hắn khó nhọc nuốt ngụm bia đang mắc giữa chừng cuống họng. Vứt mẹ cái kế hoạch về K. ngủ đêm đi. Miễn sao ngày mai có mặt ở đồn biên phòng là được.
Hai trái bóng lại đung đưa lăn vào phía bếp. Lát sau, một đĩa thức ăn trắng muốt được bưng ra.
Không nhìn, không nghĩ gì ngoài ánh mắt đổ lửa đang dồn vào tấm thân khêu gợi cứ uốn lượn quanh hắn như sắp rủ lên giường, hắn gắp bỏ miếng thức ăn đưa vào miệng và để bàn tay trái mân mê cổ tay tròn trịa đang chống trên bàn.
-Thế nào, có ngon không? – Để yên cho hắn vuốt ve, cô ta khẽ mỉm cười chờ đợi, sự chờ đợi không phải để nghe câu trả lời.
-Ngon, ngon lắm! – Hắn đáp bừa, bàn tay đã đưa lên cao hơn khuỷu tay cô ta.
-Nói dối! Anh còn đang không biết mình ăn gì nữa kia? -Lại nụ cười khiêu khích ghé sát vào mặt hắn.
Hắn cúi xuống nhìn đĩa thức ăn. Hóa ra đó là món đậu phụ. Ở đây hắn cũng đã từng được ăn đậu phụ bán trong các siêu thị khô như ăn gạch, khiến hắn ác cảm với món ăn mang quốc hồn quốc tuý này trong một thời gian dài. Nhưng miếng đậu phụ mà hắn đang nhai chầm chậm lại nuột như da con gái, mịn tan ngay khi đưa vào miệng và béo ngậy đầu lưỡi. Thứ đậu này chỉ khi nào về Hà nội hắn mới được mẹ mua đậu Mơ cho ăn.
Thấy vẻ ngạc nhiên sửng sôt của hắn, cô hầu bàn bỏ đi như đã trêu ngươi xong, nhưng bị hắn túm giữ lại.
-Em hãy ngồi xuống đây một lát.
Cô ta uốn người để lọt vào cái ghế đối diện rất điệu đà như vẫn không quên khiêu khích sự đam mê của hắn. Nhưng lúc này hắn lại không để ý đến điều đó nữa.
-Ngon lắm! Sao quán của em lại có của hiếm này? 
Một linh cảm đang mơ hồ đến khiến vẻ mặt hắn đần đần. Thấy hắn không còn để ý đến những cái trước đó khiến hắn suýt phát rồ, cô hầu bàn hơi phật ý nhưng vẫn ngồi lại trò chuyện. 
-Anh có phải là người Việt Nam không?
-Phải! Thì sao?
-Vì người làm đậu này chính là đồng hương của anh. Một người đàn bà thật tội nghiệp.
Hắn bật ngửa người ra phía sau lưng ghế khiến cái ghế suýt lật ngược. Phải rồi! Cái vị tan chảy đầu lưỡi khi đưa miếng đậu phụ vào miệng hắn đã bắt gặp ở ngôi nhà tồi tàn trên phố núi xa xôi cách đây năm năm. Đậu phụ phố núi và đậu phụ trong quán bar bên bờ sông Húc mang cùng hương vị dù đó là một khoảng cách có thể đi trọn cả đời người không tới được …
Đôi mắt hắn trừng trừng nhìn cô hầu bàn. Cô ta có vẻ hơi khó hiểu trước cái nhìn hoàn toàn xa lạ với cái nhìn trước đó mà hắn đã dành cho cô. Hắn chợt nhận ra sự không phải của mình bèn dịu ánh mắt lại.
-Anh xin lỗi…Người đàn bà ấy ở đâu? Có gần đây không? Bà ta ở đây lâu chưa? Em có biết bà ta không?
            -Bà ấy ở ngay làng này, làm đậu đã khoảng dăm sáu năm nay. Nếu anh muốn tới đó thì em chỉ cho? – Cô hầu bàn nói pha chút dỗi hờn.
            -Đương nhiên, anh muốn. Cám ơn em!
Lúc này hắn hoàn toàn không để ý đến điều gì nữa ngoài cặp mắt hau háu dõi theo ngòi bút cô hầu bàn đang viết cho hắn địa chỉ người đàn bà làm đậu phụ kia.
Trước khi đi ra hắn nhét vào tay cô ta mấy chục bạc. Cô hầu bàn dường như không để ý đến điều đó mà chỉ nhìn hắn chờ đợi nghe một điều gì đó. Nhưng hắn không hiểu ra.
-Anh sẽ quay lại đây chứ?- Cô ta ghé tai hắn thầm thì. – Em đợi đấy!
-Dĩ nhiên, dĩ nhiên…
Hắn vội vã hôn vào má cô ta và nói lời an ủi ráo hoảnh rồi lên xe phóng đi.
Không đầy mười phút sau, hắn đã có mặt ở địa chỉ ghi trên mảnh giấy ăn. Đó là một ngôi nhà hai tầng sơn màu xi măng xam xám như bao ngôi nhà khác của vùng nông thôn nơi đây. Tim đập dội lên óc khiến ngón tay hắn đang nhấn chuông run run.
Im lặng. Cái im lặng dài như cả một đời người câm. Miệng khô khốc. Máu đông lại như không thể chảy được nữa.
Rồi có tiếng lọc cọc, lọc cọc từ bên trong. Cánh cửa hé mở. Một chiếc nạng gỗ thò ra kéo cánh cửa để nó mở rộng mời khách. 
Khi cánh cửa toang ra thì gương mặt một người đàn ông bản xứ đập ngay vào sự ngạc nhiên của hắn. Ông ta rất khó đoán tuổi. Năm mươi hay sáu mươi cũng đúng. Thậm chí hơn cũng chả sai.
-Ông tìm Tina à? -Người đàn ông nhìn hắn, lúc này mới nở một nụ cười thân thiện.
-V…â…n…g! -Quá đỗi ngạc nhiên và hồi hộp, hắn khó nhọc đáp. 
Người đàn ông quay vào trong nhà gọi to âu yếm: 
-Tina, em có khách này! 
-Vâng, em ra ngay đây! -Một giọng phụ nữ với lối phát âm lơ lớ vang lên. 
-Xin ông chờ một lát. Vợ tôi đương dở tay. Gặp đồng hương, chắc cô ấy vui lắm! -Người đàn ông nói với hắn bằng một giọng hồ hởi, hiếu khách. 
Hắn đưa tay ấn nhẹ lên ngực đang phồng rộp nỗi hồi hộp.
Một người đàn bà đi ra.
Chị Tình! Hắn suýt kêu lên. Mặc dù nét lam lũ, quê mùa đã phai nhạt và chị đã đẫy đà hơn nhiều so với bức ảnh chụp từ bảy năm trước, nhưng vẫn thế, đôi mắt đau đáu chìm lút trong cái nhìn. 
Chị Tình ngỡ ngàng:
-Anh là… Anh tìm tôi?… -Chị hỏi hắn bằng tiếng Việt.
Hắn trân trân nhìn chị trong nỗi nghẹn ngào mà hắn đã gom suốt năm năm nay khi lê bước đi tìm mẹ con chị trên những ngả đường xa lạ, lạnh lẽo. Gom cả từ niềm hy vọng của ba bố con anh Mịch đang lom dom thắp từ phố núi heo hút. Gom cả từ nỗi thất vọng bỗng dưng trở về…
-Chị là… Tình phải không? -Hắn không nghe thấy và nhận thấy giọng của mình nữa.
-Vâng! Sao anh biết tôi? – Người đàn bà ngạc nhiên.
Hắn ấp úng, chẳng biết phải bắt đầu câu chuyện ra sao.
-Tôi là, tôi là… Tôi có thể gặp riêng chị một lát được không? 
-Vâng! Mời anh vào trong nhà.
Chị Tình đưa hắn vào phòng khách. Người đàn ông với chiếc nạng gỗ ý tứ đi ra ngoài vườn, phía sau nhà.
Vừa yên vị trên chiếc đi văng, hắn chăm chăm nhìn chị, giọng khàn khàn:
– Anh Mịch …nhờ… tôi … đã… 5 năm nay…tôi tìm chị…
Nghe nhắc đến tên Mịch, chị khẽ rùng mình rồi người bỗng cứng ra như hoá đá.
Cả hai im lặng. Từ từ, từ từ nước mắt dâng bờ mi, người đàn bà khốn khổ khụm người xuống, chìm lút trong chiếc đi văng quá khổ.
Chẳng biết phải làm gì, nói gì, hắn lập cập rút thuốc lá ra rít từng hồi liên tục, chờ chị qua cơn xúc động…
…Anh biết không…đã năm năm qua rồi tôi vẫn không sao quên được cái đêm khốn khổ ấy. Có lẽ tôi sẽ còn phải nhớ suốt đời để chịu tội. Đêm ấy, khi chiếc thuyền cao su vừa ra đến giữa sông, chợt ánh đèn pha cực mạnh từ trong bờ chiếu ra sáng rực, rồi những tiếng quát xì xồ , tiếng chó sủa vang lên. Chúng tôi sợ hãi dúi dụi dựa vào nhau. Chạy đi đâu được nữa? Lúc ấy, người đưa đường là một thanh niên còn trẻ hét lên:
-Biên phòng! Nhảy xuống sông kẻo ngồi tù cả nút bây giờ.
Lập tức mấy người nhảy ào xuống. Chiếc thuyền tròng trành rồi lật sấp. Tôi và cháu Tang bị văng xuống sông. Suốt từ chiều hôm trước, Tang đã bị sốt cao, hôn mê ú ớ. Lúc trên thuyền, tôi cứ phải ôm chặt cháu vào lòng để tránh cái lạnh ghê người. Phố núi nơi gia đình tôi ở cũng lạnh lắm, nhưng không thấm gì cái lạnh nơi đây…Cả hai mẹ con bị cuốn phăng vào dòng nước lạnh căm, tôi bị tuột mất cháu. Cháu vùng vẫy gọi mẹ. Tôi vừa bơi, vừa gọi tìm con. Túm được tóc cháu, tôi lôi lên, dùng một tay còn lại quạt nước, chân khua khoắng loạn xạ để bơi vào bờ. Nhưng nước chảy xiết quá, lại lạnh nữa nên chân tay tôi cứng lại…Trong lần quờ tay cuối cùng, chợt tôi túm được một mảnh ván. Một tay tôi ôm chặt cháu Tang, tay kia giữ chặt miếng ván….Rồi sau đó tôi không biết gì nữa…
Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng với chiếc giường đệm ấm áp, lờ mờ vài khuôn mặt xa lạ và những tiếng nói xì xồ. Tôi cố ngóc đầu dậy để tìm cháu Tang nhưng cứ như có cái gì đó bên dưới hút chặt lấy khiến tôi đổ vật xuống. Rồi lại lịm đi.
Lần thứ hai mở mắt, tôi hiểu là mình đang nằm trong bệnh viện. Những người đàn bà da trắng mặc áo choàng đen, ngực đeo thánh giá, nói thứ tiếng như chim hót, chăm sóc tôi rất tận tình. Mãi sau này, tôi mới biết đó là những bà sơ, và nơi tôi nằm là một bệnh viện làm phúc của nhà thờ.
Nhớ lại những gì đã xảy ra, tôi bật khóc gọi con. Những bà sơ không hiểu tôi nói gì và cũng nói gì đó tôi không hiểu, nhưng tôi cảm nhận được hơi ấm từ những bàn tay vuốt ve, vỗ về của họ, ánh mắt dịu hiền chứa chan một điều gì đó mà tôi hiểu rằng có thể yên tâm nằm lại nơi đây. Nhưng anh biết đấy, làm sao tôi có thể nằm yên trong nệm ấm khi chưa rõ số phận đứa gái tôi ra sao? Suốt mấy ngày đó tôi gần như mê sảng trong nỗi đau đớn không thể chia sẻ. Nhưng nước mắt khóc mãi rồi cũng cạn. Chỉ còn máu chảy loang trong lòng đến kiệt sức.
Đợi sức khoẻ vừa hồi, tôi lén trốn khỏi bệnh viện tìm đường ra bờ sông. Tiếng tăm chả biết để mà hỏi đường. Thôi thì cứ kinh nghiệm mà đi. Cứ đi về phía nào có hơi âm ẩm của nước lẫn trong gió. Thế rồi cũng đến được bờ sông. Tôi sục từng bụi cây sậy dại mọc ken dày bên bờ. Rồi lật tung từng mảnh gỗ, thân cây bị sóng đánh dạt vào. Tuyệt nhiên không một dấu vết về đứa con khốn khổ của tôi…Tôi mất trí đi dọc triền sông, gọi to tên con: “Tang ơi! Tang ơi!”. Goi mãi chỉ còn là tiếng khào khào…Gió sông lớn thế, bờ sông dài rộng thế ai mà nghe thấu được? Mệt lả vì đói và khát. Tuyệt vọng và đau đớn. Chả còn nghĩ ngợi gì nữa, mà có nghĩ gì thì cũng chỉ là sự cùng đường. Đứng trên bờ đá dựng đứng cạnh bờ sông, tôi bỗng có ước muốn được thả mình vào dòng nước. Đúng lúc tôi bước đến mép bờ vực thì có một cánh tay giật ngược tôi lại. Một người đàn ông chống nạng đang buồn rầu nhìn tôi và khẽ lắc đầu. Máu từ mỏm cụt cẳng chân đang thấm qua lớp băng nhểu ra. Cánh tay ông ta cắn chặt bờ vai khiến tôi không thể nhúc nhích…Không hiểu sau đó đã xảy ra gì nữa tôi không nhớ, chỉ biết tôi lặng lẽ theo ông ta quay về bệnh viện.
Khi hồi phục, tôi được nuôi trong một trại tế bần của nhà thờ và được học tiếng. Thỉnh thoảng, người đàn ông lại chống nạng đến thăm và mang cho tôi khi thì chai sữa, khi thì vài chiếc bánh mì hoặc mấy cân khoai tây rồi ngồi im lặng nhìn tôi hàng giờ. Lúc đầu tôi cứ ngỡ đó là người làm phúc trong bệnh viện nên cũng chẳng để ý. Vả lại, còn nghĩ gì được nữa hả anh? Tôi đã đầy đoạ con tôi đến cái chết. Tôi sống để biết rằng cái án tử hình chưa là gì với cái án mà tôi đang phải chịu đựng.
Khoảng nửa năm sau, khi đã có thể giao tiếp được những câu đơn giản, tôi được nhận ở lại làm trong bệnh viện. Và qua một năm do giao tiếp nhiều, tôi đã nói khá sõi thứ ngôn ngữ của người dân ở đây. Phải đến lúc đó tôi mới biết câu chuyện hãi hùng đêm hôm ấy trên dòng sông…Khi tôi tuột tay để mất cháu Tang thì cũng là lúc tôi bị dòng nước cuốn trôi xa hàng chục km. Có một người đàn ông tỉnh dậy lúc mờ sáng, đứng từ khu vườn của nhà mình nhìn ra sông, thấy tôi đang bị cuốn trôi cùng tấm ván giữa dòng nước xiết, đã lao ra và đưa tôi vào bờ. Tôi được ông ấy đưa vào bệnh viện như đã kể. Trong lúc vật lộn với dòng nước xoáy, anh ấy đã bị cuốn đập vào một bờ đá, giập nát một bên chân và phải cưa bỏ.
Chị Tình ngừng lời, nước mắt lại lã chã rơi. Hắn bị thôi miên trong câu chuyện bi thương ấy đờ đẫn, mắt trợn trừng nhìn chị.
-Có phải là người đàn ông tôi đã gặp vừa nãy?- Hắn hỏi hụt hơi.
Tình gật đầu:
-Vâng! Đó là ân nhân của tôi…Ông ấy sống một mình, bố mẹ đã mất từ lâu. Ngày trước, ông ấy làm thợ xây. Nhưng từ khi cụt chân, ông bị mất việc và chỉ sống nhờ những đồng tiền trợ cấp ít ỏi…Anh nói đi, liệu tôi có thể làm được gì khác không?
Chị ôm mặt, đôi vai rung lên bần bật. Liệu có cách cư xử gì khác không? Liệu có thể rời bỏ nơi đây như kẻ trốn chạy không? Hắn chua chát cười.
Bất ngờ chị Tình ngẩng mặt lên nhìn thấy nụ cười nhếch của hắn, lập tức lại cúi xuống. Gịong chị nhỏ nhẹ, nhẫn chịu.
-Tôi về nhà ông ấy, chăm sóc ông ấy, nấu nướng cho ông ấy ăn những món ăn Việt nam mà ông ấy rất thích. Chưa bao giờ ông ấy được một người đàn bà chăm sóc như tôi đã dành cho ông ấy…Rồi chúng tôi nên vợ chồng.
Hắn rụt rè hỏi vì thiếu tự tin:
-Thế còn anh Mịch, còn hai đứa trẻ ở nhà? Đã năm năm nay họ mong tin tức của chị và cháu Tang biết bao? 
 Chị lại ôm mặt. Không phải để che những giọt nước mắt mà như muốn dấu sự tủi hổ trước hắn.
-Phải…Tôi đáng bị nguyền rủa. Anh cứ chửi tôi là con đàn bà lăng loàn, khốn nạn cũng không sao! Nhưng tôi không thể…
Chị lại nghẹn lại không nói tiếp.
Bỗng hắn nổi khùng:
-Chả lẽ chị không nghĩ ra cách nào hay hơn sao? Chả lẽ chị bỏ mặc chồng con ở nhà mong ngóng chị từng ngày sao? Chị có biết họ sống cũng dở mà chết cũng dở không?
Chị nhìn hắn không tức giận, không có ý xin tha thứ:
-Tôi biết…Tôi biết họ khốn khổ thế nào khi không có tin tức hai mẹ con tôi. Tôi biết vợ chồng một ngày nên nghĩa không dễ gì quên. Nhưng tôi còn biết làm người vô ơn là không thể…Nếu tôi rời bỏ nơi đây, Paven sẽ sống ra sao với cái cái chân tàn tật duy nhất còn lại? Anh Mịch dù sao cũng vẫn còn hai đứa con để mà nương tựa. Còn Paven…Tôi không thể, anh ơi…Vả lại chúng tôi còn một đứa con trai nhỏ mới hơn ba tuổi. Nó cũng là con tôi mà…
Bỗng chị quì xuống, chắp tay vái:
-Tôi lạy anh, anh cứ nguyền rủa tôi đi.  Nhưng xin hãy hiểu cho tôi…Tôi sẽ sống để chịu mọi tội lỗi mà tôi gây ra. 
Hắn nhìn người đàn bà đang phủ phục dưới nền nhà, mái tóc bị rũ ra chùm kín phần lưng gầy guộc, chợt cũng bật khóc như con trẻ. Hắn cũng quì xuống bên cạnh rồi nâng chị ngồi dậy. Họ ngồi bệt bên nhau trên nền nhà, ngổn ngang, đau đớn…
Bữa cơm tối hôm ấy hắn đã phải cố cười vui để Paven khỏi nghĩ ngợi vẩn vơ điều gì. Hắn cùng ông ta uống rượu do chị Tình tự ủ lấy với mấy bìa đậu phụ mượt như da con gái. Y chang hương vị bữa rượu trong buổi tối ở phố núi năm năm trước, kể cả nước mắt mặn chát đang chảy trong lòng…Thằng bé con của Paven và chị Tình lẫm chẫm, luẩn quẩn bên chân ba người, mặt nhoe nhoét thức ăn quệt ngang như bất cứ đứa trẻ nhà quê nào, toe toét cười mỗi khi hắn cúi xuống vuốt má nó và thốt lên một câu tiếng Việt ngọng nghịu mà chị Tình phải dịch lại hắn mới hiểu. Hết hai chai thì Paven đã say mèm và xin phép đi nằm trước. Mấy hôm nay cái chân cụt của ông lại dở chứng nhức nhối. Có lúc chị Tình phải dìu đi. 
-Chị thành cái nạng của ông ấy mỗi khi trở giời chú ạ.- Chị Tình cười buồn, nói với hắn một cách thân tình khi Paven đã vào buồng trong. 
Đêm khuya, hắn xin phép ra đi. Giữ thế nào hắn cũng không ở lại chơi vài ngày như chị Tình mong muốn. Trước khi chia tay, Tina mở tủ, lấy ra một tập tiền.
-Suốt những năm qua, chúng tôi chỉ sống tằn tiện bằng hoa lợi thu hoạch được từ khu vườn và tiền trợ cấp xã hội của ông ấy. Bao nhiêu tiền làm đậu, Paven bảo tôi phải giành dụm để  gửi về giúp gia đình ở Việt Nam. Tôi nói dối là ở Việt nam còn có mẹ già và mấy đứa em nghèo để ông ấy khỏi áy náy.
Hắn ngần ngừ chưa dám cầm thì chị nhìn hắn, nước mắt đã rưng rưng.
-Chị biết chú ngại vì không biết ăn nói ra sao với anh Mịch…Thôi thì chú cứ nói là chị và cháu Tang đã chết. Số tiền này mẹ con chị gom góp trước khi bỏ mạng nơi xứ người, may mà nhờ chú giữ hộ được…Nói sao đó tùy chú, miễn để anh ấy yên tâm mà sống tiếp…Khóc người chết có ai khóc được mãi đâu hả chú? 
-Tôi không thể…Chị hãy hiểu cho tôi. – Hắn thở hắt ra.
-Chị van chú, chị lạy chú…Chú không giúp chị thì chị chết cũng không nhắm mắt được. Số tiền này anh Mịch còn phải trả nợ mà khi hai mẹ con chị ra đi đã mắc vào.- Chị quệt ngang nước mắt chảy ướt má như đàn bà nông thôn vẫn làm khi bận tay.
Hắn cầm lấy gói tiền nằng nặng cất vào túi quần.
-Nếu không quay được lại đây thì chú cũng viết vài chữ báo cho chị biết tin tức bố con nó ở nhà khi có dịp. Đời chị coi như bỏ, nhưng chị vẫn phải sống, biết làm sao được? Biết đâu có ngày chị được về lại phố núi…Mà cũng có khi chả bao giờ…Đời người ngắn dài khó mà lường được điều gì?
Hắn không nói thêm được điều gì. Mà nói gì nữa…
Hắn nhìn chị lần cuối rồi khẽ gật đầu quay bước. Ra đến cổng, không cầm lòng được, hắn quay lại nhìn. Trong bóng tối khu vườn, một bóng đen đứng bất động. Không biết chị còn nước mắt để khóc không? Còn hắn, máu như không chảy về tim nữa…
 
*   *   *
 
Và, bây giờ hắn đang đứng đây, bên dậu găng đổ xiêu xiêu, lòng ngổn ngang nhìn cái sân nền đất nện đỏ au nhàu nhĩ vì mưa bụi thấm lâu. Điếu thuốc đã cháy hết mà hắn vẫn đứng nguyên một chỗ. Đất nát dưới chân đã ngập nửa đế giày…
Phải vào thôi! Dằn lòng lại mà vào thôi. Không phải vì đã bay vượt hàng vạn cây số xuyên qua mấy quốc gia. Không phải vì ê người suốt năm tiếng đồng hồ ngồi trên cái ghế cứng như thép trên tàu hỏa để tới đây…Không phải vậy! Họ phải biết dù là tin tốt hay xấu. Chính sự vắng lặng hun hút như lỗ đen mới khiến họ ghê sợ. Nó còn kinh khủng hơn cả cái chết, sự bội bạc và xa cách.
Hắn đưa tay nắm chặt tập tiền, đẩy mạnh cánh cửa và sải những bước dài trên nền sân bằng đất nện đỏ au, nhớp nháp như một nồi cháo loãng vừa bị đổ.
Nghe tiếng lép nhép ngoài sân, trong nhà lạch cạch đôi nạng gỗ đang tiến lại phía cánh cửa mở toang đón đợi hắn…


Tháng Tám năm 2005
Chú thích:

(*) Bộ đội: Đây là tiếng lóng để chỉ những người Việt Nam định cư bất hợp pháp tại Nga và các nước Đông Âu

 

Thảo luận cho bài: "Hai phía chân trời"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả