Hình như là tình yêu

Tác giả:

Mới nghe tin về Lan, chàng đã thấy thiếu thiện cảm về nàng, một phụ nữ có chồng Mỹ, đang dạy học tại một căn cứ quân sự bên tiểu bang miền đông nam. Nàng cư ngụ bên ngoài căn cứ đó, một thị trấn đó có rất nhiều binh sĩ, có thể nói là một thị trấn của lính. Theo nhiều người kể lại, nơi đó xảy ra nhiều tội ác. Quân sĩ trong trại lớn đóng gần đó không có nhiệm vụ trừ các băng đảng, việc đó là của cảnh sát, mỗi ngành một nhiệm vụ, họ không dẫm chân lên nhau. Lan cho biết vào ban ngày dân thị trấn nghe được những tiếng súng nổ như bắp rang từ những sân tập bắn vẳng lại. 

Chưa lần nào chàng hỏi tuổi nàng. Lấy chồng trong thời kỳ chiến tranh đến nay, từ khi dứt bom đạn cũng đã 15 năm, chắc nàng cũng cỡ ngoài bốn mươi. Dường như đa số những người lập gia đình với quân nhân Mỹ thời đó cũng có một vấn đề nào đó, do hoàn cảnh gây nên, như tài chính, kinh tế, tình cảm. Chàng thông cảm với những phụ nữ đó, nhưng thiếu mỹ cảm với họ. Có lẽ chàng hơi khó tính, hơi cổ điển một chút. 
Trước khi nàng cùng một nhóm đến công tác khoảng một tháng nơi trung tâm chàng làm việc, chàng đã nghe nói về Lan. Một bạn đồng nghiệp đã sang quân trường bên đó công tác một tuần cùng ngồi thảo luận với nàng , đại diện cho trường về tập sơ thảo dự án giáo khoa phần tiếng Việt. Hai bên đã có những điểm không đồng ý được với nhau. Nàng góp ý , đề nghị sửa đổi những chữ những câu theo ý nàng, còn bạn chàng cố giữ nguyên chỉ sửa đổi rất ít. Nhưng nàng có hai khuyết điểm , một là nàng sinh trưởng ở miền Nam, trong khi tập sách viết theo giọng Hà Nội, hai là tiếng Việt của nàng chỉ tính theo năm 1975 về trước, đã lỗi thời, bởi người ta muốn có thứ tiếng Việt đang dùng hiện tại. 
Đó là chưa kể trình độ chuyên môn của nàng, dường như không cao lắm. Nhìn tuồng chữ không phải chuyên gia cũng có thể đoán biết được trình độ. Chữ Lan viết nguệch ngoạc, không phải lối viết tháu của các bác sĩ kê đơn. 
Cả nhóm gồm 13 ngôn ngữ khác có những buổi họp thông báo trước là có phái đoàn miền đông qua duyệt lại, góp ý lần chót dự án tập sách giáo khoa này. Đây cũng là công trình đầu tiên cho áp dụng phương tiện mới của máy vi tính cài bài tập vào máy cho sinh viên có thể làm bài ở nhà vừa nhanh vừa đỡ mất công chấm bài theo lối thủ công cũ. Nàng vẫn là người đại diện cho phần tiếng Việt của nơi thụ hưởng. 
Nàng đã đến và không khí đã bớt căng thẳng, nhờ nàng được nghe thuyết trình thảo luận nhiều về dự án này. Có những khuyết điểm không tránh được, có những hạn chế phải chấp nhận, chưa kể tập sơ thảo bằng tiếng Đức đã được vị tướng liên hệ chấp thuận. Không khí làm việc giữa hai bên đã có chiều hướng thuận lợi hơn. Nàng đã có những nụ cười hiếm hoi. 
Nhan sắc nàng trung bình như những cô thư ký, cô giáo bình thướng bên nhà, không có gì nổi bật. Nước da ngăm đen, khóe miệng chưa hẳn được coi là thanh tú, sống mũi thiếu chiều cao cho cân xứng với khuôn mặt. Có lần nàng đã nói: “Tại sao cứ phải sửa này nọ, tại sao phải tốn tiền đi mỹ viện. Tôi thấy giả tạo lắm, cứ để tự nhiên là hơn”. Điểm nàng có thể gây chú ý nơi phái nam là cặp mắt của nàng , tia nhìn của nàng. Tia nhìn nửa như chế nhạo, nửa như mời gọi. Con người hình như sống bằng nội tâm nhiều hơn, ít nói và ít cười. Trong câu chuyện, nàng cho biết không thể chịu được cái cười của một người điều khiển chương trình ca nhạc của một hãng chuyên sản xuất băng video. Cái cười nửa miệng có đó, rồi tắt ngấm ngay đó, không có dư âm, dư vị. 
Nàng ưa bắt chuyện với chàng nhiều hơn đồng nghiệp khác, những người đã sống và làm việc ở đây hàng ba chục năm, bốn chục năm . Nàng thổ lộ: Nghe ông nói chuyện tôi đoán biết ông rời Việt Nam khoảng dưới mười năm. Nghe ông nói tôi còn thấy ông còn nhiều chất Việt Nam, còn mấy người kia … ..có vài ông chêm tiếng Anh nhiều quá, lai rồi, lai hết rồi, ngay cả tôi đây nữa cũng lai rồi. Chàng giả vờ ngớ ngẩn khôi hài để chọc nàng : _ Tôi thấy mắt cô vẫn đen, mũi vẫn thấp chứ có lai gì đâu? 
– À, ông dám chê mũi tôi thấp hả, ông đừng để tôi phải ngưng nói chuyện với ông nữa. 
Dần dà nàng đương nhiên thú nhận là tiếng Việt của mình không theo sát được bên nhà, trên phương diện dạy học. Trong câu chuyện, nàng cố gắng tránh dùng tiếng Anh, thứ tiếng nàng có thể nói lưu loát với những đề tài thông thường được, tuy giọng nói vẫn hiện rõ chất Việt Nam. Trong những buổi họp, lúc hội ý, nàng tỏ ra rất Mỹ tranh luận đến nơi đến chốn, tuy ngữ pháp chưa hoàn hảo. Nhưng trong câu chuyện trao đổi trong giờ nghỉ , khi nói chuyện với đồng nghiệp người Việt nàng muốn tỏ ra vẫn giữ được bản sắc quê hương. Trong lúc vừa xử dụng máy vi tính vừa trò chuyện, nàng biểu lộ cá tính độc lập, nửa ảnh hưởng văn hóa đất Mỹ, nửa muốn “về nguồn”. Nàng cho biết: đàn ông phải ráng chiều theo những ý kiến mau thay đổi của phụ nữ. Trong gia đình, ngoài xã hội cũng thế, phụ nữ nhờ gì, cần gì thì nên làm ngay, nếu không họ sẽ thay đổi ý kiến. Chàng thấy nàng có những điểm là lạ, ngồ ngộ. Có lần, đến trường làm việc, nàng mặc một quần thun đen bó sát đùi. Thấy nét mặt hơi ngạc nhiên của chàng, nàng hiểu, nói ngay:” Mặc thế này cho tiện, đỡ vướng víu”. Vài phút sau, lại nhìn chàng, nói:” Chắc lần sau không dám mặc cái quần này trước đồng nghiệp đồng hương quá!” 
Từng mẩu chuyện nhỏ nối kết lại, chàng kể cho Lan nghe đời sống trong trại cải tạo, nơi chàng trải qua năm năm tủi nhục lao động khổ sai, đói rét. Nàng thở dài, cái thở dài biết đâu không để thương cho chính thân phận mình? 
_ Nghe ông nói tội nghiệp ông và các bạn ông quá! 
Nàng bỏ lửng rồi lảng sang chuyện khác. Đến bữa tiệc nhỏ tổ chức cấp thời ngay nơi làm việc hôm đó, nàng mới nói nhiều hơn và chàng mới có dịp hiểu nàng hơn chút nữa. Nàng chỉ có bề ngoài Mỹ hóa, chỉ Mỹ bên ngoài thôi. Lan nói: 
– Cho đến bây giờ tôi vẫn thích ăn cơm hơn là ăn bánh mì, không hiểu sao ..Vùng tôi ở không có chợ Việt, không có tiệm ăn Việt. Ăn những món ăn Mỹ mãi, ớn quá! 
– Cô muốn thưởng thức cơm Việt, vậy cô đã lên thành phố S. J chưa? 
– Tôi không có xe ở đây và nếu đi cũng cần người hướng dẫn. 
Rồi qua những tiếp xúc nghề nghiệp, nàng thích nói chuyện với chàng nhiều hơn. Tối hôm đó chàng là người lái xe kiêm vai hướng dẫn viên, đưa nàng lên thăm thành phố đông người Việt nhất trong vùng Vịnh. Chàng ghé đón nàng ở bên ngoài cư xá sỹ quan độc thân, nơi nàng được tạm xử dụng trong thời gian công tác. Suốt thời gian gần bốn giờ đồng hồ chàng đã hiểu thêm về nàng, và suốt 140 dặm đường vừa đi vừa về, chàng và nàng tưởng có thể nói được nhiều chuyện, nhưng chàng còn giữ ý, không mang tiếng lợi dụng thời cơ. Còn nàng, có lẽ cũng muốn tâm sự nhưng có thể e ngại chàng đáng giá nàng thấp đi. Câu chuyện quanh quẩn về dạy học về ngôn ngữ: 
– Nhiều lúc tôi thèm tiếng Việt quá! không có ai để nói chuyện cho vui. Dạy tiếng Việt cho họ, không phải như nói chuyện giữa người Việt với nhau. Tôi muốn về thăm Sài Gòn quá, nhà tôi chưa muốn cho tôi đi. 
– Nàng không kể chuyện về gia đình, chỉ nói: 
– Đây là lần đầu tiên tôi được một người Việt lái xe cho, vào buổi tối và đi xa thế này. 
Chàng trả lời khách sáo: “Có gì đâu, rất hân hạnh được làm tài xế cho nữ giáo sư”. Nàng cười buồn : “Giáo sư gì đâu, bị bên quân đội họ nắm đầu chỉ huy, kiểm soát hết. Bên này còn đỡ , bên tôi họ kềm sát lắm”. Trong câu nói bâng quơ vừa rồi, chàng có thể suy diễn như sau: tôi chỉ được người Mỹ lái xe cho, tôi chưa đi xa với một người đồng hương vào buổi tối, chung quanh tôi chỉ toàn là người Mỹ. Đôi lúc chàng bắt bắt gặp ánh mắt ngó chàng, nhưng chạm tia nhìn, nàng lại hướng đi chỗ khác. 
Nàng không hỏi về gia đình chàng nhưng hỏi về đời sống trong trại cải tạo, những kỷ niệm đau buồn đó còn ghi đậm trong ký ức và trong tiềm thức, chúng còn quái ác đi vào giấc ngủ của chàng, chàng kể hết cho nàng nghe. Nàng nhận xét: “Tôi không ngờ có chuyện thật như ông kể, tôi nghĩ ông là người khô khan lắm. Cuộc đời buồn quá ông nhỉ". Nhảy sang chuyện thơ văn, nàng có những nhận xét xác đáng và mới lạ, điều này gây ngạc nhiên cho chàng: “Tôi không có nhiều thì giờ, chỉ đọc những gì những người khác cho là hay, đáng đọc. Cũng như băng nhạc, băng video, tôi thèm nghe tiếng Việt lắm, nhưng tôi chọn lựa những cuốn nào hay, theo ý tôi”. 
Đến nơi, chàng mời nàng dùng tô mì với gia bình dân, nhưng ở một tiệm lớn, nổi tiếng ở thành phố đó. Nhìn ánh mắt nàng thích thú lắm, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. 
_ Ở đây đông vui quá ông nhỉ! 
Ăn xong tô mì, nàng khen : ‘Chưa bao giờ tôi được ăn tô mì ngon như thế này, lại rẻ nữa’. Chàng mỉm cười thông cảm: “Chưa đâu, mời cô đi thêm mấy bước nữa”. Nàng đã lột bỏ được cái vỏ ngoài mô phạm, vẻ hợm hĩnh sống lâu năm trên đất Mỹ. Bước vào cửa tiệm chuyên bán thức ăn quê hương làm sẵn: bánh cuốn nhân thịt, bánh cuốn Thanh Trì, bánh ướt, bánh hỏi, bún chả, chả giò …..rồi các loại chè đủ màu, đủ vị, những bánh giò, bánh ú, bánh chưng, bánh tét, những ổ bánh mì đủ loại nhân bên trong..,những chuối khô, me chua, chùm ruột, ô mai đủ loại … nàng như người đi trên sa mạc gặp vũng nước giữa trời nắng gắt. Nàng lẩm bẩm: “Ngon quá! Rẻ quá!’ . Nàng chọn vỉ xôi này, bỏ chén chè khác, ôm ra quầy chờ tính tiền. 
Chàng phải khuyên : “Cô mua nhiều thức ăn làm sẵn không để được lâu đâu, một mình cô ăn không hết, bỏ uổng”, “Tôi sẽ bỏ tủ lạnh, ăn dần cho đến khi bay về bên kia. Tôi cũng cho mấy mụ cùng đoàn thưởng thức, họ cứ hỏi tôi về những món ăn Việt Nam nổi tiếng”. Sau cùng theo lời khuyên, nàng bỏ bớt lại nhưng lấy thêm nhiều đồ khô, loại để lâu được. Nàng còn vơ thêm những gói bún, gói bánh phở khô, chàng phải nói: 
-Đừng mua ở đây, giờ này chợ đã đóng cửa, để hôm nào tôi dẫn cô vào chợ, rẻ hơn nhiều, tha hồ lựa chọn. Nét mặt nàng rạng rỡ hẳn trong lượt về. Mười lăm năm bên người chồng Mỹ, chung quanh toàn là người dị chủng, nàng vẫn còn mang nét dè dặt kỹ càng khi ra trước đám đông, nàng còn kiềm chế được nỗi vui buồn, ít ra ở bên ngoài. 
Trên đường về, câu chuyện xoay quanh đề tài văn học, nghệ thuật. Chàng dấu không cho biết là mình cũng viết lách lai rai. Nàng nói: 
– Phải nhận rằng thơ, văn ở bên nhà cũng có những bài thơ hay, những cuốn truyện đọc được. Chàng trả lời rằng đồng ý, vì đó là đời sống thực của người viết, chúng ta có đời sống bên này, họ có đời sống bên kia, không thể buộc họ phải nghĩ như mình viết như mình được. Chàng nói đến văn nghệ cởi trói và văn nghệ cung đình, văn nghệ phải phục vụ chế độ, bàn đến tự do của người cầm bút ..Nàng nói: “ Thât là vui, khi được nói chuyện với ông, đâu có biết ông cũng đọc nhiều và có những ý kiến mới, những kinh nghiệm thưởng thức về văn thơ” 
Lúc gần về đến căn cứ, xe ngon trớn trên xa lộ số một, xe cộ qua lại thưa thớt, sương mù cố hữu ở vùng này tỏa xuống mù mịt. Chàng phải lái chậm lại, tầm nhìn bị hạn chế. Nàng rùng mình vì hơi lạnh, đưa mắt nhìn chàng như muốn nói điều gì. “ Cô có cần tôi mở máy sưởi không? “Không, tôi thích hơi hơi lạnh một chút”. Đột nhiên nàng nói như nói một mình: 
– Giá xe cứ đi mãi như thế này nhỉ. “ Một xe trong cõi hồng trần như bay”. Tôi thích lái xe trong sương mù hay đi bộ một mình dưới màn sương .. 
Chàng hỏi đùa: 
– – Cô đang làm thơ đấy à? 
Nàng nói như người ngái ngủ; 
– Có lúc tôi muốn chết cho rồi, chán đời quá! 
– Xin cô khoan chết, cô bỏ lại sinh viên cho ai. Vả lại cuộc đời đáng sống lắm chứ! 
Từ đó về đến cư xá quân trường, nàng ít nói hẳn. Xe đậu bên ngoài cổng cư xá trên một đỉnh đồi, con đường nhỏ, dốc chạy ngoằn ngoèo. Chàng định đi vòng sang bên phải mở cửa cho nàng theo thói quen Âu Mỹ, nhưng nàng nói không cười: “ Bữa nay chúng ta nên theo phong tục Á đông”. Bước xuống thảm cỏ, nàng tần ngần đứng im như muốn nói câu gì đó. Đèn trong khu cư xá vàng vọt, lẻ loi, con đường trải nhựa loáng loáng ánh đèn xe. Thoang thoảng đâu đây hương là khuynh diệp, trộn lẫn với mùi thức ăn Mỹ. Mùi thơm khuynh diệp chàng đã được ngửi thấy ở phía đồi đối diện với Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, mùi thức ăn Mỹ ở những nhà bếp đơn vị, ở khu riêng của Cao ủy tỵ nạn trên các đảo Mã Lai, Nam Dương …. Trên cao nhìn xuống lấp lánh những hàng đèn đường đan ô vuông của thị trấn Seaside, gần hơn bên tay phải là dọc ánh sáng đướng bay phi trường Monterey với những đốm sáng chớp tắt, gợi nhớ đến những chuyến đi, những từ biệt, những nụ hôn hẹn ngày tái ngộ. 
Chàng cũng đứng ngẩn ngơ, chưa biết nói gì. Nàng cúi đầu bước lại gần, nhìn sâu vào mắt chàng: 
– Nói thực với ông, cảm ơn ông nhiều lắm, cám ơn đã cho ăn tô mì thật ngon. Cám ơn ông đã cho tôi một buổi tối nhiều ấn tượng tốt đẹp. 
Nàng đứng sát nắm lấy bàn tay chàng: 
– Tôi sẽ chẳng bao giờ quên đêm hôm nay, tôi không biết nói gì hơn nữa. 
Chàng không dám choàng tay ôm nàng từ biệt theo đúng kiểu Mỹ rất chiếu lệ và rất hời hợt. Bởi chàng e rằng chàng sẽ ôm nàng thật chặt, và sẽ hôn nàng thật thắm thiết và đó sẽ là vòng tay của hai kẻ yêu nhau. Nàng cũng hơi ngửa cổ, vì nàng thấp hơn, như chờ đợi một nụ hôn từ biệt. Nàng buông tay nắm, còn đứng đó. Chàng vẫn chưa dứt khoát, đúng ra chàng phải lên xe ngay phút đó,. Tại sao không mời nàng đến một quán rượu nào đó và có thể sau đó đến một phòng khách sạn nào đó. Chàng được tự do “tạm thời”, vợ chàng ở xa. Nàng có một tâm sự buồn hay nàng nhớ quê hương cha mẹ già còn ở lại quê nhà? Nàng bất mãn với cuộc sống hiên tại, nàng không tìm thấy hạnh phúc lứa đôi ở người chồng khác tiếng nói, khác dòng máu? Nàng không bao giở thổ lộ và chàng cũng chưa hề hỏi. 
Còn nàng, còn chờ đợi gì. Nội quy cư xá sĩ quan rất rộng rãi, tiếp bạn trai bạn gái tự nhiên, nhất là với khách thường dân vãng lai lại càng thoải mái hơn. Mụ trưởng đoàn gốc người Mễ lắm lời kia, không có quyền gì về nếp sống tình cảm riêng tư. Còn đợi gì không mời chàng lên tiếp tục câu chuyện, mời chàng một ly cà phê đắng, nghe chàng kể chuyện văn nghệ? Sau đó có thể tự do yêu nhau, không sợ ai nhòm ngó. Bây giờ nàng hoàn toàn tự do, nếu thật lòng yêu người đồng nghiệp da vàng năm năm trong trại tù khổ sai kia, còn chờ gì nữa? 
Nàng nói câu cuối cùng, xách hai túi thức ăn quay vào cổng cư xá: 
– Mong gặp lại ông. 
Trong hai người ai là người đã bỏ lỡ cơ hội hiếm có để sống thực với lòng mình? 
Người nào cũng có ràng buộc, có những mối liên hệ, có đời sống riêng. Cả hai đều có biết dừng lại đúng lúc. Không một vòng ôm, không một nụ hôn. Nàng lủi thủi đi vào khoảng tối dưới bóng cây. Chàng còn đứng đó, nửa như nuối tiếc, nửa như tự bằng lòng mình. Chàng mỉm cười, không hài lòng vì lời cảm ơn “ tô mì”, có vẻ Mỹ quá, nhưng tự mãn vì hiểu nàng có cảm tình đặc biệt vói mình. 
Lái xe về, chàng tự tìm hiểu, tại sao mình không lên tiếng hoặc làm một cử chỉ tỏ tình nào đó. Phải rồi, thủ phạm là hương lá khuynh diệp, những tàng cây khuynh diệp lả lướt, rì rào dẫn chàng ôn lại quá khứ như mẩu phim thoáng qua. Từng hàng bia mộ nối tiếp tưởng như bất tận, những huyệt đào sẵn hàng loạt, những tiếng khóc chồng, con xé ruột ..Còn gì nữa, phải rồi mùi thức ăn nhà bếp Mỹ, liên tưởng đến thảm cảnh vượt biển , xác chết đuối ở bờ biển, hải tặc, hiếp đáp, những giọt nước mắt tủi nhục, những căm hận phải nuốt vào bên trong… ..Chúng là thủ phạm để anh không thể, không còn hứng thú để ôm em, để hôn em. Thì ra hội chứng chiến tranh Việt Nam còn kéo dài sau mười lăm năm, còn làm hỏng chuyện của chàng đêm nay, ở đỉnh đồi này sao? 
+ + + 
Chừng một tháng sau, một viên trung sĩ nhất thuộc căn cứ thị trấn nàng cư ngụ trao cho chàng một gói quà nhỏ, nói:” Của bà Lan J. gửi cho ông”. Mở ra, là một gói chuối khô và một lá thư vắn tắt với tuồng chữ quen thuộc của nàng: 
Anh, 
Gửi anh chút quà quê hương. Về Việt Nam, nhưng Lan thất vọng lắm. Mọi sự không như trong mơ tưởng của mình. Nơi anh ở có nhiều món ăn ngon dân tộc, nhưng hy vọng anh sẻ thích chuối, vì là ..của Lan tặng anh. Có nhiều điều muốn nói với anh, nhưng không thể nói được. Lan không muốn gặp lại anh đâu. 
Chàng hiểu, nàng sống bằng nội tâm, nàng nói ít, hiểu nhiều. Ngoài ra còn kèm theo tờ báo địa phương, đăng trọn một cuộc phỏng vấn bà Tr. L Th. người chị em của một phụ nữ nổi tiếng một thời. Giờ đây bà ta sống hạnh phúc với người chồng gốc Pháp, vẽ tranh sơn dầu, đã mở một cuộc triển lãm tranh và dạy tiếng Pháp trong cùng quân trường với nàng. 
Như thế điều ước đoán về nàng, chàng đã đúng. Đó có phải là tình yêu nam nữ chăng. Hay nàng đã lầm, đã chuyển hóa tình yêu quê hương thành ái tình? Nàng bị tiếng sét quê hương đánh trúng, nên đã có cảm tình đặc biệt với người lái xe, người hướng dẫn nàng tối đó, hay là nàng thực tình yêu chàng? Thôi hãy cố quên hội chứng chiến tranh, hãy tạm quên đi hương khuynh diệp, hãy quên đi mùi nhà bếp Mỹ. Thôi cứ cho đó là tình yêu, cho cuộc đời lên hương, hãy cứ xem đó là tình yêu, hãy cứ là tình nhân ..xa cách cho đẹp! 
Xin cám ơn em, anh sẽ không viết thư, không gọi điện thoại cho em đâu. 

DIỆU TẦN
(02/18/00)

 

Thảo luận cho bài: "Hình như là tình yêu"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả