Hoá thân

Tác giả:

Tặng thầy Phạm Hoà 

Nhớ Aderbaidjan – tuổi trẻ của tôi
(NTL)


Tôi ngờ câu chuyện sau đây chỉ là huyền thoại, nhưng nghĩ rằng trong đó có những điều người xưa muốn gửi gắm tới chúng ta, thấy nên kể lại đầu đuôi cho các bạn cùng nghe.

Hôm đó giấc mơ của mẹ con bà San đã trở thành hiện thực. Họ chia tay với chiếc buồng tắm cũ nhà Chánh Tảo, chuyển số đồ đạc ít ỏi và xoàng xĩnh của mình về túp lều vừa mới được dựng lên trên sông bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt, dành dụm gần hai chục năm trời – Bà giặt thuê, còn Cảo, anh con trai lực lưỡng, làm thợ bạn lò rèn từ năm mười sáu tuổi. Bà San giết gà cúng thổ công và làm cơm mừng nhà mới. Bữa cơm ấm cúng và ngon lành có cả hành cuốn tôm và đậu phụ nhồi. Khách có ba người – dì Bao nấu bếp nhà Chánh Tảo và hai anh thợ rèn – đều chất phác, xởi lởi, tốt bụng, hết lòng vui mừng cho chủ nhà nhưng không thể ngồi lâu. Sau mấy chầu nước chè họ xin phép ra về, giữ sức cho ngày làm lụng cực nhọc hôm sau.
Anh thợ rèn dễ ngủ, lại có chút men, vừa đặt lưng đã ngáy pho pho như kéo gỗ. Bà San dọn dẹp xong cũng đi nằm nhưng không sao ngủ được, phần vì cùng với niềm vui hạnh phúc, dòng hồi ức đắng cay – bấy nay bị chìm đi trong cuộc sống lam lũ, thấp thỏm lo âu – dồn đến cuồn cuộn trong lòng, phần vì nghe gió bên ngoài nổi lên khác lạ, rồi mưa xối ầm ầm như tháo cống.

Gần sáng, đột nhiên gió ngừng. Bà San bừng tỉnh, thấy đầu óc tỉnh táo lạ thường, chợt hiểu rằng mình đã đến đoạn chót cuộc hành hương khổ ải trên trần thế, bèn gọi Cảo, quyết định nói cho con trai điều bấy nay vẫn canh cánh không yên.

Anh thợ rèn cúi khuôn mặt gồ ghề, đen sạm hơi than xuống giường. Giọng bà San yếu ớt, ăn năn, dường như sám hối. Lần đầu tiên trong đời Cảo biết mình có một người em sinh đôi. Hơn hai chục năm về trước người đàn bà trẻ bị ruồng rẫy, không chốn nương thân, đã phải rứt ruột bán một trong hai đứa con còn đỏ hỏn cho khách qua đường ở Sơn Hạ lấy ba đồng bạc. Với ba đồng bạc ấy bà đã duy trì sự sống của mình và đứa con còn lại bằng những bát cháo bột ngô loãng, còn đến ngày thứ chín, ngày đặt tên cho trẻ theo phong tục, mua một con gà trống nhỏ, cắt tiết, rỏ chín giọt xuống cái đĩa đựng chín hạt thóc rang để trời chứng kiến. Từ lúc đó có một người tên là Cảo tồn tại trên đời.

– Người ta đem nó đi vào ngày thứ bảy – Giọng bà San run rẩy, thì thầm như cầu nguyện – Ai sẽ làm lễ đặt tên cho nó? Ai sẽ vỗ về cho nó ngủ? Người ta có đánh đập nó không? – Bà ngước cặp mắt mờ đục, đẫm lệ nhìn Cảo – Con ơi, con dù sao cũng có một mái nhà… Còn em con, giờ không biết sống chết nơi nào. Con hãy cố làm lụng, dành dụm rồi đi tìm nó về, anh em đùm bọc nuôi nhau thì dưới suối vàng mẹ cũng được mát lòng mát dạ.

Những lời cuối cùng của mẹ khắc sâu vào tâm khảm anh thợ rèn. Sau khi chôn cất mẹ trong nghĩa địa làng, giữa những nấm mồ cô quạnh và rầu rĩ khác, Cảo lao vào làm lụng quần quật như một con ngựa thồ. Anh hàng ngày dậy từ khi bóng tối còn dày đặc trên những bụi đơn lúp xúp dọc triền sông, chèo thuyền chở hàng giao cho dân buôn đồ sắt ngoài chợ huyện, trở về còn kịp đến lò rèn. Suốt ngày quai búa, tối đến Cảo đi thả lờ, kéo lưới, đôi khi kiêm cả chèo đò ngang cho khách lỡ độ đường. Làm thì như thế nhưng ăn uống thì rặt một món cháo bột ngô. Cảo không uống rượu, luôn tránh xa đàn bà và những hội cờ bạc, vốn có sức quyến rũ không thể cưỡng lại được đối với đàn ông ở những vùng hẻo lánh như thế này.

Năm ba mươi sáu tuổi, khi đã tích cóp được một khoản tiền kha khá, Cảo gọi một anh bạn thợ rèn đến nhà, đưa cho mấy đồng bạc, nhờ trông hộ túp lều rồi xuống thuyền chèo đi. Đến bến Gát, Cảo bán chiếc thuyền, đi bộ về Sơn Thượng, từ đó đến Sơn Hạ chỉ còn nửa ngày đường.
Sơn Hạ là vùng bán sơn địa, thiên nhiên giàu có và phóng túng. Vài đỉnh núi thấp nhô lên giữa những đồi gò trùng điệp, những thung lũng xanh tươi trù phú. Mặc dù bị thôi thúc bởi mục đích của mình, thỉnh thoảng Cảo vẫn phải đứng sững lại, thích thú nhìn đàn bò đuổi nhau chạy lô xô vàng cả sườn đồi. Dân cư ở đây hào phóng và hiếu khách, mời anh uống sữa tươi, ăn bánh ngô nhân đậu ngựa, cho anh ngủ nhờ trong những đống cỏ khô ấm cúng, nhưng không ai hay biết gì về người em trai xấu số của anh.

Sau đó Cảo tới miền Đông, nơi các bộ lạc xưa kia còn để lại vô số miếu thờ hình lục lăng xây bằng đá xám, bây giờ biến thành quán rượu của dân đào quặng từ dưới xuôi lên. Những người thợ mỏ đen như nặn bằng than, ngồi quây vòng trước quán, trên cán cuốc chim, chia cho anh rượu ngô và cá mòi muối, nhưng khi nghe anh hỏi đều nhất loạt lắc đầu. Một hôm Cảo đang lê bước một cách khó nhọc trên con đường lầy lội ở Két thì nghe tiếng xe ngựa dừng lại ở ngay bên cạnh, rồi một ông già bé nhỏ, râu tóc bạc phơ nhảy xuống, xô lại ôm chầm lấy anh.
– ối trời ơi, ông lớn đó ư? Ông lớn còn sống ư? – Ông già kêu lên mừng rỡ và hôn tới tấp vào đôi tay đen đúa của Cảo – Tay ông lớn đã trở nên chai sạn thế này sao? Ông lớn hẳn đã phải chịu nhiều khổ ải. Nhưng ông lớn trở về được là may mắn lắm rồi. Bấy lâu nay ông lớn sống ở đâu?

Ông già vừa nói vừa khóc nấc lên như trẻ nhỏ, nước mắt nước mũi đầm đìa trên hai gò má nhăn nheo, vàng như nặn bằng sáp. Không đợi Cảo trả lời, ông túm lấy tay anh mà lôi lên chiếc xe ngựa chở đầy vải vóc, thực phẩm khô và đủ thứ đồ dùng lặt vặt khác, quất roi vun vút như động rồ. Con ngựa bực tức giật mạnh. Chiếc xe chồm chồm lăn bánh trên đường lát đá.
“Ông già nhầm mình với ai đó” – Cảo bối rối nghĩ thầm. Trong lúc đó ông già, phần do quá xúc động, phần do bản tính, liến thoắng kể lể về những điều xảy ra trong gia đình Banca nào đó. Dần dần Cảo lờ mờ hiểu rằng đó chính là người đầy tớ của em trai mình. Cậu em may mắn trở thành con nuôi một điền chủ giàu có tên là Banca, được đặt tên là Sanca và khi bố mẹ nuôi chết đi, thừa hưởng khoản gia tài kếch xù (về sau Cảo biết gồm khu đồng cỏ rộng hai trăm mẫu, đàn bò gần ba trăm con, một khu rừng lớn, khu nhà ở xây dựng kiên cố, hết sức cầu kỳ và vô số của cải, vàng bạc). Sanca đã có vợ và hai con nhưng vẫn ham mê du ngoạn và thích phiêu lưu. Bảy năm trước anh ta mua một chiếc thuyền buồm ở Két, đem theo đầy tớ và con chó nhỏ, cùng mấy người thủy thủ ra khơi rồi biệt tích luôn. Gia đình vợ con hết sức lo buồn, mấy năm liền cho người đi tìm kiếm chẳng thấy tăm hơi, đã hết hy vọng, đều nghĩ rằng Sanca đã chết.
– Ai nấy sẽ mừng đến phát điên lên cho mà xem! Ông lớn đã trở về, thật may mắn quá! Suốt bảy năm qua ông lớn ở đâu?

Câu hỏi của ông già khiến một ý nghĩ nảy ra trong óc Cảo. Anh trả lời rằng mình bị đắm thuyền, dạt lên một hòn đảo, ngất đi vì va đầu vào đá, sau đó được dân chài cứu chữa rồi sống ở đó bằng nghề thợ rèn.
– Đảo xa xôi, tiền bạc không có, ngày đêm khắc khoải nhớ nhà mà không sao về được. May mà cách đây hai tháng có một chiếc tàu tình cờ ghé vào đảo mua nước ngọt đồng ý chở tôi vào đất liền.

Người đầy tớ già lắng nghe câu chuyện bịa đặt của Cảo với vẻ xúc động sâu sắc và chân thành, đến nỗi chính anh cũng phải mủi lòng.

Chiếc xe dừng lại giữa sân, trước một ngôi nhà lớn với những cửa sổ hình bầu dục, xung quanh có lan can gỗ sơn màu gạch non, mái lợp gỗ phiến. Ông già tụt xuống nền đá ong, tất tả chạy dọc hàng thìu lựu lúc lỉu những quả, gọi toáng lên đến lạc giọng. Mọi người đổ ra, sững sờ, không ai dám tin vào mắt mình. Người phụ nữ trẻ đánh rơi hộp đồ thêu xuống thềm, luýnh quýnh chạy tới, lao vào vòng tay anh, khóc tức tưởi trong niềm vui sướng bất ngờ không sao kìm giữ được. Theo sau mẹ, hai đứa trẻ, một trai một gái, mặc những bộ quần áo bằng vải thổ cẩm sặc sỡ, vừa hét “Ba ơi”, vừa lăn xả vào chân Cảo.

Trên đường đi Cảo tự nhận là Sanca chỉ với ý định tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện, nhưng bây giờ anh cảm thấy mình đã hóa thành Sanca thực sự. Họ ôm nhau mà khóc thỏa thuê giữa vòng vây của những người đầy tớ cũng đang đầm đìa nước mắt.

Niềm vui đối với gia đình Banca không có bờ bến. Người ta đốt những bánh pháo dài từ ngọn thông xuống đất. Suốt ba ngày liền khói từ lò quay thịt bốc lên như cháy nhà. Mùi mỡ thơm lừng khiến lũ chó cuống cuồng chạy sục khắp mọi chỗ, đuôi rối rít và mắt long lanh sáng. Rượu ngô nếp đổ đầy những thùng gỗ lớn. Lễ tạ ơn tổ chức trên một bãi cỏ rộng. Những ông bà già mặc áo lễ bằng vải thổ cẩm, đeo vòng bạc, vừa đồng thanh hát bài “Chín khúc lòng thành” ngợi ca trời đất, vừa nối nhau đi vòng quanh và rót rượu vào đống lửa đốt bằng nhựa cây.

Trong bữa tiệc, có đôi lúc, khi nâng ly rượu lên môi, Cảo bỗng khựng lại, thoáng ăn năn. Nhưng anh hiểu rằng mình đã đi quá xa rồi, sau đó gạt mọi băn khoăn với ý nghĩ rằng không nên làm tiêu tan niềm hạnh phúc của người đàn bà và hai đứa trẻ tội nghiệp. Hơn nữa, đằng nào thằng em trai cũng đã chết rồi. (Ngoài ra cũng phải nói rằng rượu đã đóng góp vai trò của nó).

Ngày tháng trôi qua đối với Cảo như một giấc mơ tuyệt đẹp và kỳ lạ. Anh thợ rèn lao vào tận hưởng khám phá sự nhàn rỗi, no đủ, quyền uy cùng với sắc đẹp của người đàn bà kiều diễm mới hai mươi tám tuổi. Quả thực, sự lúng túng trong mọi việc cũng như tính tình và lời ăn tiếng nói thô lỗ của Cảo khiến gia nhân bỡ ngỡ. Vợ Sanca ngạc nhiên thấy chồng đã quên nhiều kỷ niệm trong những năm chung sống. Nhưng tất cả điều đó đều dễ dàng giải thích: Việc ông lớn bị đắm tàu và va đầu vào đá trước kia vẫn còn để lại di chứng, hơn nữa bảy năm làm thợ rèn trên đảo là một thời gian không nhỏ khiến người ta có thể quên mất nhiều thói quen.

Tuy nhiên sự bỡ ngỡ ấy bị niềm vui đoàn tụ át đi, rồi sau đó, cũng giống như mọi thứ trên đời, dần biến mất cùng với thời gian. Bản thân Cảo cũng nhanh chóng thay đổi, đường bệ hơn, giọng nói nghe đã bớt cục cằn. Trong mắt gia nhân ông chủ lại tỏ ra tốt bụng, đáng kính và tháo vát, có phần còn hơn cả ngày xưa – có lẽ nhờ ảnh hưởng của tuổi tác và những năm tháng bôn ba ở xứ người. Ông chủ đã từ bỏ thói quen du ngoạn, chăm chú vào công việc làm ăn. Chẳng bao lâu khu đồng cỏ của gia đình đã mở rộng ra tới bốn trăm mẫu, đàn bò đông gấp rưỡi. Cộng với những khoản thu khác, lợi tức hàng năm tăng gấp hai lần.

Nhưng với riêng Cảo thì công việc làm ăn phát đạt chẳng hề đem lại mảy may sung sướng. Cuộc sống mới bắt đầu có sức quyến rũ ghê gớm vì lạ lẫm, dần dần trở nên nặng nề. “Tất cả rồi sẽ quen đi!” – Anh thợ rèn thầm nhủ, nhưng vẫn bứt rứt không yên. Một nỗi buồn xen lẫn khao khát mỗi ngày một lớn lên trong tim không sao lí giải được.

Một hôm, Cảo đang rầu rĩ thơ thẩn dọc hàng thìu lựu trước nhà thì trông thấy mấy anh chăn ngựa từ nhà kho bước ra, tay xách những chiếc búa lớn, chắc định sửa lại ngôi chuồng. Cảo không còn kìm được mình nữa. Mắt sáng lên như gã nghiện trông thấy bàn đèn anh nhảy bổ tới, giằng lấy một chiếc búa, hùng hục quai vào chiếc cối đá khiến nó vỡ tan trước vẻ kinh hãi của mấy anh chăn ngựa. Nhưng chỉ được vài chục nhát Cảo đã rã rời chân tay, mồ hôi toát ra như tắm. Anh ném chiếc búa xuống đất, quay vào nhà.

Cơn đói cồn cào làm Cảo hoa cả mắt. Anh thét đầy tớ dọn bàn, chửi rủa ầm ĩ đến nỗi họ vội vã cuống cả chân tay. Món đầu tiên vừa dọn ra Cảo vồ ngay lấy. Anh nhai ngốn ngấu, vét sạch những bát thịt lớn, dùng cả hai tay mà bốc, mấy lần đầy tờ phải dọn thêm thức ăn. Nhưng thật kì lạ, Cảo càng ăn cơn đói càng dữ dội. Ruột gan anh như bị ai cào cấu.

Tình trạng này kéo dài đến mấy tuần liền, rồi đột nhiên Cảo hiểu rằng mình không còn tồn tại. Khi Cảo ăn, hoá ra đó là Sanca ăn. Khi anh nói thì đó là Sanca nói. Đêm nằm ôm ấp người đàn bà, Cảo sôi sục ghen tuông với Sanca. Rất nhiều lần, khi những người giàu có trong vùng mời Sanca đến dự tiệc, khi đám đầy tớ kính cẩn chào Sanca, Cảo cố tự nhủ rằng đó là họ chào anh, rằng Sanca chính là anh – Cảo hoàn toàn có thể đổi tên thành Sanca lắm chứ! Dù vậy, nỗi buồn bực, bứt rứt cứ bám riết lấy anh. Cảo không ăn nữa, gầy rộc đi, tính khí trở nên nóng nảy dễ sợ.
– Bệnh cũ của ông lớn lại tái phát! – Gia nhân thì thào với nhau như vậy.
Không khí lo âu nặng trĩu đè nặng lên gia đình. Những thầy lang nổi tiếng trong vùng được mời đến, nói rằng ông lớn phải tạm lánh đàn bà, chỉ dẫn dọn phòng riêng cho người bệnh, cắt cử đầy tớ chăm nom cẩn thận, kể đủ loại đơn thuốc, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Thầy cúng khuyên làm lễ trừ tà. Đêm đêm lửa nhựa cây bốc cao, bập bùng cháy quanh những cọc sắt lớn đỏ rực, trên đó những con bò tơ bị đốt thành than. Tiếng đọc thần chú ngân nga trong bóng đêm huyền ảo, nghe thảm thiết và rùng rợn.

Cảo trông thấy ngọn lửa và tiếng đọc thần chú vào nửa đêm, bèn vùng vậy, sai đầy tớ lấy một bộ quần áo vải thô, thay vào, bỗng nhiên sùi bọt mép, vật vã trong cơn co giật. Thầy lang cấm đám đầy tớ không được làm kinh động, ngồi trong phòng với bệnh nhân suốt đêm nhưng cũng bó tay. Sáng ra Cảo cho gọi vợ con Sanca đến, kể lại đầu đuôi sự việc.

Như thế nghĩa là bệnh trạng của ông lớn đã trầm trọng lắm rồi. Tiếng khóc như ri. Gia cảnh thật bi thương, chẳng khác gì đám tang. Người ta càng cuống cuồng đi tìm thầy thuốc, vào tận núi Mai Lĩnh mời những ông lang thổ dân, chữa bệnh bằng thuốc gia truyền. Đêm đêm, càng nhiều súc vật chết thiêu trên cọc sắt. Nhưng tất cả đều vô ích. Còn bệnh nhân, với đôi tay thợ rèn lực lưỡng, gạt phăng thầy lang, ném những bát thuốc chưng sắc công phu qua cửa sổ.
– Tôi không ốm đau gì hết! – Cảo hét lên tuyệt vọng, mắt đỏ ngầu giận dữ, gặp vật gì cũng vớ lấy mà quai như quai búa. Anh đập đầu vào đá, ra sức thề thốt rằng tất cả những điều mình kể đều là sự thật, anh là anh trai sinh đôi của Sanca, rằng tất cả chỉ là nhầm lẫn. Những hành động ấy càng chứng tỏ ảnh hưởng trầm trọng của tai nạn năm xưa.

Cảo gần như phát điên, nhất là sau mấy lần trốn đi không thành và bị giữ chặt trong một căn phòng lớn có gia nhân canh gác cẩn thận. Nhưng ở đời ai mà tránh khỏi có lúc sơ hở. Một buổi sáng gia nhân vào phòng thì thấy ông lớn đã biến mất, không đem theo gì ngoài bộ quần áo vải thô nhuộm chàm của anh chăn ngựa.
+
Kết cục đời Cảo chỉ có anh thợ rèn được thuê trông nhà biết. Cảo trở về túp lều cũ, tiều tuỵ như một cái thây ma. Anh ta kêu lên rằng chỉ thèm quai búa một bữa cho thoả thích, nhưng nhịn đói đã mấy năm trời, nấu một nồi cháo bột ngô lớn, húp xì xụp và chết vì bội thực, không kịp đến lò rèn.

Bắc Ninh 25/10/1990

 

Thảo luận cho bài: "Hoá thân"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả