Kiều Loan (Đoan 8)

Tác giả:

(Thư lại và lính dẫn ông già đến công đường.
Lão đứng nhìn bốn phía)

Thị lang:
Lão già kia còn nghĩ ngợi điều chi?
Vào tới đây sao ngươi chẳng chịu quỳ?

Ông già (cười lớn):
Tuổi thơ, quỳ dưới gối gia nghiêm
Đi học, quỳ nghe chữ thánh hiền
Lúc gặp đấng anh hùng áo vải
Ta quỳ nghe tiếng sét kinh thiên
Ngày nay, tóc bạc, thân trơ trọi
Cha mẹ nằm yên dưới dạ đài
Thầy học qua đời, vua đã mất
Hỏi ta còn quỳ trước mặt ai?

Thị lang (ra bộ ân cần):
Ta thương tuổi già, cởi trói cho ngươi
Vào tới đây, đừng hung hăng ngỗ ngược
Hãy tường khai quê quán họ tên người.

Ông già:
Lão sinh ra chẳng biết họ tên gì
Đời vẫn gọi ta rằng: “Ông lão rượu”
Còn quê hương? Chao ôi! Con linh điểu
Rừng núi nào dung nổi cánh bao la?
Đoá hoàng vân không có đất xây nhà
Theo sự nghiệp anh hùng đi bốn hướng
Đến ngày nay thành rượu ngon rót xuống
Dâng mưa to bão lớn quét trần gian
Thành Phú Xuân chao đảo sắp rơi tàn
Dưới mũi kiếm Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ!

Thị lang:
Đó là giặc, cấm nhà ngươi ca tụng.

Ông già:
Đó là giặc nhưng nghiêng trời trí dũng
Cũng làm vua mà lại biết thương dân
Hàng trăm năm ta mới gặp một lần
Đó là giặc. Biết ai không là giặc?
Một nước nhỏ mà phân chia Nam Bắc
Xâu xé nhau vì hai chữ lợi danh
Tam vương, ngũ đế, cướp đất phá thành
Mấy trăm năm nghe dân tình xao xác
Thay cái đạo làm người bằng giáo mác
Yến ẩm lầu cao… xương máu chan hòa Đấng cao xanh tủi thẹn chót sinh ra
Giống quái vật lấy tên là vua chúa Nên phải có người hát ngao đây đó
Trốn ra ngoài rơm rác của cuộc đời
Ta thấy ai vừa thắng trận lên ngôi Ai là giặc? – Mà ai không là giặc?
(Cười khà khà)

Thị lang:
Quân sĩ đâu? hãy nọc tên lão tặc Đánh trăm roi cho biết phép triều đình.
Vũ tướng quân (giơ tay ngăn Thị lang):
Xin đại nhân hãy dẹp nỗi bất bình
Người tuổi tác đã sắp về cõi thọ.
Ông già (quay lại nhìn Vũ tướng quân):
Ai đấy nhỉ, mà uy nghi áo mũ
Dám can ngăn nộ khí của hình quan?
Thôi lão nhớ rồi! (cười lớn)
A! Chức trọng quan sang
Thay nét mặt nhanh bằng tay vẽ phóng!
Ông làm tướng đấy ư? – Vầng trán rộng
Sao ngày nay thấp ngắn bé tèo teo?
Hai mắt ông xưa nhân hậu trong veo
Giờ nẩy lửa! – Cả cái mồm tươi trẻ
Chỉ còn nét vạch ngang trông đúng vẻ
Bậc lược thao dũng liệt của đương triều áo mũ này,
Ông đã tốn bao nhiêu lời nịnh hót? – Thưa ông… ông họ Vũ?
Thị lang (chú ý hơn):
Lão nói gì? – Người lão quen biết cũ?
Ông già (càng đủng đỉnh):
Xưa, tướng quân đi học đạo thánh hiền
Tôi giảng dạy thế nào, ông đã vội quên?
Mà thấm thoát đã nghênh ngang quyền chức?
Hừ, tốt đỏ qua sông, bán sa chi lực!
Lọt vào cung, sĩ tượng cũng lao đao!
Buồn cười thay! Thế sự lật nhào
Tôi tiếc quá ngày ông còn để chỏm!
Thị lang (nham hiểm, quát mắng):
Làm nhục Vũ tướng quân là tội lớn
Không thể dung tha! Ngươi nói lại đi!
Người làm thầy Tây Sơn giảng dạy những gì
cho bọn đầu xanh?

Vũ tướng quân:
Cụ già nhầm đấy
Tôi biết cụ là ai đâu!

Ông già (cười sằng sặc):
Đúng vậy!
Làm tướng Nguyễn Triều, sao biết được ta!
Ngồi lầu cao, mắt bé bỗng đâm loà
Biết sao được ta là ai!
(Giơ tay chỉ thẳng vào mặt Vũ tướng quân, gọi to)
Vũ Văn Giỏi!
Đúng tên tiểu sinh ngày mười sáu tuổi
Cắp sách học ta, học đạo thương dân
Đạo làm người! – Ai đã học chữ “nhân”
Đều từ chối không làm quan triều Nguyễn
Chỉ có ông, học mấy pho kinh điển
Rút được ra hai chữ “lợi” và “danh”
Hai chữ vàng biến hoá rất nhanh
Đã thành chữ bất nhân! Vô sỉ!
(Vũ tướng quân định cử động, bỗng lại ngồi im, đau đớn, cắn môi. Công đường lặng đi một phút nặng nề)

Thị lang:
Hãy khai thực những ai cùng theo Ngụy
Ta tâu vua sẽ giảm tội cho ngươi.

Ông già:
Làm giặc ư? Sao lại hỏi mình tôi?
Người làm loạn là những người phẫn uất
Vì chính sự bạo tàn. Ôi! Nước mắt
bao nhiêu lần rỏ xuống những hồn oan?
Chính sự gì đi cầu viện ngoại bang
về tàn sát những người dân vô tội?
Ông Nguyễn Huệ ngày xưa đi bốn cõi
Chia kho tàng Trịnh Nguyễn cho muôn dân
Đến ngày nay ai là lũ bất nhân
đã cướp hết quả ngon vườn tươi tốt?
Chính sự gì? Lũ dã man, ngu dốt
Giết hiền tài, ưa xiểm nịnh, nạt dân lành?

Thị lang:
Cắt lưỡi đi!

Tham tri:
Đại nhân đừng phẫn nộ
Dùng cực hình là hành vi man rợ!
Ông già (lại giọng say):
Nơi kinh kỳ có chủ quán bao dong
Mời ta uống mỗi ngày ba nậm rượu
Đời đẹp quá, trong mùi hương mỹ tửu
Riêng chiều qua, lão cạn bốn vò đầy
Đến bây giờ, có lẽ vẫn còn say
Mắc bệnh rượu nên ta buồn ta khóc
Nghĩ tủi nhục cho non sông gấm vóc!

Thị lang (tuốt gươm trên án):
Lão già này xấc láo, chẳng mềm gan
Chém phăng đi cho hết giống nói càn!

Tham tri (gạt đi):
Quân sĩ đâu? – Giam ông già vào ngục
Chờ tỉnh rượu sẽ hỏi ra sự thực.

Ông già:
Đừng chờ ta tỉnh rượu ở đời này
Ta còn say đến khi về đất lạnh
Đầu ta rụng nhưng hồn ta lanh lảnh
Cười các ngươi toàn một lũ vô lương.
(Lính lôi tuột ông già đi)

Thảo luận cho bài: "Kiều Loan (Đoan 8)"

Tìm theo tác giả