Lên tám

Tác giả:

Các giống trong trời đất
Giống người là hơn nhất
Chủ trương mặt địa cầu
Sai dùng hết muôn vật

Ta sinh làm giống người
Bố mẻ đẻ ra đời
Ăn ngon, mắc áo ấm
Sướng hơn hết mọi loài.

Lắm lúc ta ngồi nghĩ
Thật cũng không biết nghĩa
Bé đại như chúng ta
Tại sao mà sướng nhỉ?

Ta nghĩ mãi không ra
Ta về hỏi mẹ cha
Nghĩa ấy ta đã hỏi
Hôm qua thầy bảo ta.

Rằng xưa giống người này
Cũng như loài chim cây
Chỉ hơn có óc tốt
Một ngày khôn một ngày.

Khôn dầu bởi tự học
Thực mạnh ở công học
Tổ tiên ta ngày xưa
Học mãi thực khó nhọc

Sự học đủ mọi đường
Óc khôn ngày mở mang
Tài đức hai bề tiến
Hơn hẳn loài chim muông.

Ấy khác người các nước
Nghìn vạn năm về trước
Cho nên ta ngày nay
Bé dại mà sung sướng.

Sung sướng như chúng ta
Thực là nhờ ông cha
Giếng sâu mạch nước tốt
Cây cao bóng rợp xa.

Nước giếng uống đỡ khát
Bóng cây ngồi râm mát
Ơn cây mong càng cao
Ơn giếng mong đừng cạn.

Ta ơn sự học này
Như giếng lại như cây
Ông cha để lại đó
Ta mong ngày càng hay.

Ấy khắp người trong nước
Mong hay hay chửa được
Chúng ta còn trẻ thơ
Sự thường nên biết trước.

Trước hết hai thân ta
Hai thân là mẹ cha
Cha mẹ cùng sinh đẻ
Thân ta từ đấy ra.

Tiếng khóc mới ra đời
Tai mắt đã nên người
Kinh hoàng thay lòng mẹ
Lo mừng biết mấy mươi!

Ba tháng con biếy lẫy
Ba tuổi con biết chạy
Thân con trong ba năm
Lòng mẹ lo áy náy.

Thân con mẹ lo cho
Thân mẹ, mẹ không lo
Mẹ rét con thường ấm
Mẹ đói con thường no.

Thân con đà ấm no
Lòng mẹ chưa hết lo
Lo sầu thay lòng mẹ
Gang thước ai lường đo!

Con ngã, lòng mẹ đau
Con khóc lòng mẹ sầu
Thân con liền ruột mẹ
Con thơ nào biết đâu!

Thân mẹ, mẹ coi thường
Thân con quý như vàng
Mẹ sốt dầm mưa gió
Con sốt đà thuốc thang

Thân con còn nhỏ bé
Lòng mẹ khôn xiết kể
Thân con như tôm cua
Lòng mẹ như sông bể.

Sông bể chưa là đâu
Cha mẹ ân tình sâu
Nuôi con mới lên tám
Mừng con còn về sau.

Như lúa còn con gái
Xanh xanh bên đường cái
Cha mẹ mong cho con
Một mai sẽ gặt hái.

Như chim vừa vỡ bọng
Lông cánh đương sinh mọc
Cha mẹ mong cho con
Một mai sẽ bay bổng.

Mong con được nên đời
Mong con được nên người
Cha mẹ mua bút giấy
Cho con đi học ngoài.

Cơm áo cha mẹ lo
Bút giấy cha mẹ cho.
Một con được đi học
Hai thân bao công phu.

Công nuôi nhờ mẹ cha,
Công học thầy dạy ta
Sách vở vô cùng tận
Nghĩa lý còn sâu xa.

Sâu thẳm bể đại dương
Xa thẳm con đường trường
Sự học từ đâu trước
Trước nhất từ luân thường.

Luân thường ta phải hiểu
Làm người ấy là đạo
Ta học đạo làm người
Mở đầu nên biết hiếu

Chữ hiếu đạo làm con
Cha mẹ ta biết ơn
Ơn cha cùng ơn mẹ
Như bể và như non.

Tưởng đến non cùng bể
Nghĩ lại ơn cha mẹ
Khó thay chút tình con.
Lấy gì đem giả nghĩa?

Bể rộng non thời cao
Ơn ấy biết nhường bao
Khó thay một đạo hiếu
Báo hiếu nên làm sao?

Đạo hiếu rộng như bể
Một đời con chửa dễ
Chúng ta còn trẻ thơ
Thầy bảo sao hay thế.

Ở nhà cùng hai thân,
Ra vào quanh dưới chân.
Đem lòng một tấc cỏ
Báo đáp cùng ba xuân.

Ba xuân như mẹ cha
Tấc cỏ như thân ta,
Nhờ xuân, cỏ xanh tốt,
Có cỏ xuân vui hoà.

Ta nay như cỏ xuân,
Ngày ngày chơi trước sân.
Nghĩ sao trong tấc dạ,
Cho vui lòng hai thân.

Khi vui nào được mấy
Lo buồn như dễ thấy,
Cha lo con nên thương,
Mẹ buồn con chớ quấy.

Ta xem lòng mẹ cha
Ta suy làm lòng ta.
Quần áo mặc nên tiếc
Vui bạn đừng chơi xa.

Trèo cao hay ngã đau
Cảm nắng thường ốm lâu
Thân ta của cha mẹ
Ta phải thường lo âu.

Ta nay còn trẻ thơ,
Chưa cho cha mẹ nhờ.
Cha mẹ lúc sai bảo,
Vui vẻ con dạ thưa.

Đạo hiếu rộng như bể,
Thân ta còn nhỏ bé.
Nhớn lên mong về sau,
Trọn hiếu cùng cha mẹ

Suy lòng hiếu mẹ cha
Ở với anh em ta
Anh em, chị em ruột
Cha mẹ cùng sinh ra.

Giọt máu cùng chung nhau
Anh trước, em thời sau.
Thân hình khác dầu khác,
Xương thịt đau cùng đau.

Ta nghĩ tình thịt xương,
Không như người đi đường.
Vốn đã cùng cha mẹ
Nên biết cùng yêu thương.

Yêu nhau nhường miếng ăn,
Thương nhau nhường áo chăn,
No ấm không là mấy
Thơm thảo biết bao tình.

Anh em tình không xa
Sinh trưởng trong một nhà.
Như lan và như cúc,
Một chậu bao cành hoa.

Ta xem hoa có giống,
Lan lan và cúc cúc,
Cùng giống hoa cùng hương.
Cây tốt hoa chen chúc

Hoa cúc và hoa lan,
Vinh hoa trong thế gian
Hoa tốt cây thêm quý
Hoa nhiều, hương càng hơn.

Anh em trong một nhà
Thân tình như chậu hoa
Ở sao cho hữu ái
Cho vui lòng mẹ cha.

Ai sinh ra mẹ cha
Trên có ông bà ta.
Bên nội và bên ngoại,
Nguồn gốc gần không xa.

Nội ngoại họ hai chi
Chú, thím, cô,cậu, dì,
Anh em con chú bác
Tình nghĩa cùng sâm si.

Tôn trưởng trong họ hàng
Thầy bạn trong nhà trường
Vào ra phảiu lễ kính
Ấy cùng trong luân thường.

Thông minh trời đất sinh
Học đạo để sửa mình.
Luân thường không lớn bé,
Chúng ta đừng coi khinh!

Sự học từ luân thường
Suy ra khắp mọi đường
Đức hạnh cùng trí thức,
Nghĩa lý hoà văn chương.

Cha mẹ công khó nhọc,
Sinh con cho đi học
Con hay cha mẹ vinh
Hư hèn cha mẹ nhục.

Con nghĩ đến mẹ cha
Sao cho hơn người ta.
Học hành phải chăm cố,
Ăn ở cho nết na.

Tài đức nổi thanh danh,
Ngu ác thiên hạ khinh
Phần hơn ta phải chọn,
Giữ nết, chăm học hành.

Học sách phải quý sách
Sách vở giữ cho sạch.
Tờ giấy bao công phu,
Chúng ta đừng để rách,

Học thầy, biết ơn thầy,
Có thầy ta mới hay.
Nghĩa lý không bờ bến,
Ai trỏ con đường ngay?

Học thầy vui có bạn,
Đua bạn,m học không chán,
Bạn hiền, ta kính yêu,
Bạn dở đừng thân thiết.

Thầy dạy ta biết ơn
Tư ich có bạn hiền,
Công học không ai giúp,
Siêng năng từ ta hơn.

Chúng ta tuổi còn xanh
Tính trời đang thanh minh.
Lúc học không cố học,
Đến sau rồi ăn năn.

Ta xem bao nhieu người,
Dở dang hư một đời,
Nào phải chất óc kém,
Bởi xưa không học, lười.

Tư chất ai không tốt,
Học lười ai cũng dốt.
Thông minh chưa vững hay,
Siêng năng là sự cốt.

Ngày tháng như chim bay,
Nên nghĩ mà lo thay.
Một mai ta lớn tuổi,
Khó học hơn ngày nay.

Sự học trọng đức hạnh
Người hay như ngọc sạch
Nung đúc nhờ núi sông,
Mài rũa nên hiền thánh.

Hiền thánh cũng là người,
Đức hạnh hay hơn đời,
Người xưa nào có mấy,
Quý báu trên trần ai.

Trần ai ai khác ai,
Cùng nhau cùng mắt tai.
Có đức nên hiền thánh,
Vô hạnh đời mỉa mai.

Ta nay cũng là người,
Tai mắt đứng trong đời.
Có học theo hiền thánh,
Không để thế gian cười.

Đi xa từ bước gần,
Lên cao từ dưới chân.
Thánh hiền ta muốn học,
Đức nhỏ nên theo dần.

Bụng dạ quý ngay thẳng,
Giao tiếp trọng tin thực.
Lúc vắng như lúc đông,
Giữ gìn theo phép tắc.

Lòng nhân ta sẵn có
Rộng yêu thương kẻ khó.
Cây non chớ bẻ cành,
Chim non đừng hại tổ.

Việc nghĩa ta nên làm,
Cử nghĩa it khi nhầm.
Thuyền sông theo bánh lái,
Tàu bể kim chỉ nam.

Phẩm hạnh trọng liêm sỉ
Liêm sỉ không ty bỉ
Vật ngoài ta không tham,
Tính trời ta biết quý.

Liêm sỉ thành thanh cao,
Phẩm giá hơn nhường bao.
Thanh cao như ngọc núi,
Ty bỉ như bùn ao.

Cảnh ngộ ta coi thường
Ăn mặc không cầu sang,
Giá trọng ở phẩm hạnh,
Thân đẹp nhờ văn chương.

Văn chương thiên hạ quý
Chữ nghĩa sinh hoa mỹ
Văn hay ý vị hương,
Bốn bể cùng thanh khí.

Sự học trọng trí thức,
Cao xa không cùng cực
Văn hoá thông đông tây,
Báo chí truyền tin tức.

Thánh triết đời đời sinh,
Trí thức ngày ngày tinh.
Việc học chia khoa loại,
Chuyên khoa cùng giảng minh.

Thiên văn cùng Địa lý,
Toán pháp cùng Cách trí.
Lịch sử cùng Hoạ đồ
Triết lý cùng Chánh trị.

Học cao có chuyên khoa,
Học thường nên biết qua,
Học thường ta hằng học,
Chuyên khoa rồi sau ra.

Học thường là phổ thông
Gây thành tư cách chung.
Dầu biết chưa là mấy,
Có học hơn người không.

Không học như mọi rợ
Có mắt như không mở,
Đời người như đi đêm,
Trí thức như đèn lửa.

Ta xem bao nhiêu người,
Không học ngu một đời.
Ấy cũng cùng tai mắt
Tôi tớ cho người sai.

Có học có khôn biết
Trí khôn học có tiến,
Bước lên đường văn minh,
Một mai theo thánh triết.

Sự học trọng nghĩa lý
Có học có suy nghĩ
Nghĩa lý không biết suy
Học vấn như vô vi.

Sách vở chúng ta học,
Mắt trông, miệng thời đọc.
Chữ sách ở ngoài thân,
Nghĩa lý vào trong óc.

Nhờ óc ta thông minh,
Nhờ học, óc càng tinh,
Có học không biết nghĩa,
Như óc không thần kinh.

Nghĩa lý không cùng kỳ
Càng học càng tinh vi.
Thánh triết là ngu dốt
Hơn nhau vì biết suy.

Học vấn có từng bước
Nghĩa lý có sau trước
Nghĩa học từ thân ta,
Suy nhà ra đến nước.

Ba phần đất nước nhà
Hai nhăm triệu dân ta.
Giang sơn cùng máu mủ
Quanh quản gần không xa.

Lạng Sơn đến Hà Tiên
Men bể giải đất liền.
Trung phần gánh ở giữa
Nam, Bắc đèo hai bên.

Hai nhăm triệu dân ta,
Người nước như người nhà.
Dẫu khác cha mẹ đẻ
Nhưng cùng ông Tổ xa.

Tổ ta gọi Hồng Bàng,
Họ ta giống da vàng.
Hai mươi lẻ năm triệu
Con cháu vua Hùng vương.

Kể từ vua Hùng vương
Tên nước gọi Văn Lang
Sai sứ sang nước Bắc,
Ngoại giao xưng Việt Thường.

Dân ta đời Hồng hoang
Văn hoá từ Tàu sang.
Thi thư nhờ Sĩ Nhiép
Canh nông nhờ Tích Quang.

Cuộc đời trải dâu bể
Anh hùng ba bảy kẻ
Họ Đinh vua Tiên hoàng.
Cờ lau khai nghiệp đế.

Trần, Lý, nối Lê, Đinh
Văn trị ngày quang minh.
Văn hay, võ càng mạnh,
Phá Tống, khai Chiêm Thành.

Trần mất, giặc Minh sang,
Sông núi người chủ trương.
Vua Lê ra phục nước,
Non xanh nổi áo vàng.

Vận nước có thay chuyển,
Mệnh trời mở Hoàng Nguyễn.
Nam Bắc thống dư đồ,
Đời đời vua đại Việt.

Phong hội vừa mở mang
Đường bể thông tây dương.
Mưa Âu hoà gió Á,
Người Pháp tự Tây sang.

Người Pháp gọi “Lãng Sa”
Mong liên hiệp cùng ta.
Vàng trắng dẫu khác giống,
Nhân loại là một nhà.

Dân ta may gặp bước,
Lãnh đạo có nhà nước.
Thấm thoắt không bao năm,
Quang cảnh rồi hơn trước.

Kẻ học, người canh nông,
Người buôn, kẻ bách công.
Nhân cách có tiến hoá,
Dân trí ngày khai thông.

Bốn nghìn năm nước cũ
Hai nhăm triệu dân số.
Một mai rồi văn minh,
Trăm sự nhờ Quốc Tổ.

Cuộc đời buổi đua chen,
Người hơn giúp người hèn,
Dắt nhau lên Đài múa
Ơn người, ta chớ quên.

Ta ơn người dắt ta,
Ta thương nòi giống nhà.
Đoàn kết cùng tiến bjước
Văn minh đường không xa.

Đường xa không ngại chi,
Vui đàn ta cứ đi.
Một bước lại một bước,
Đến nơi rồi có khi.

Đường xa đi lại khó
Dắt tay có đàn lũ.
Văn minh mong đến nơi,
Vẻ vang cho nước Tổ.

Nước tổ bốn nghìn năm,
Việt Thường tức Việt Nam.
Người nước hai nhăm triệu,
Yêu nước phải đồng tâm.

Ta xem loài vật nhỏ,
Ngậm ngùi ta tưởng mộ
Ong, kiến biết họp đàn,
Chim, sâu còn luyến tổ.

Có nước không biết yêu,
Không bằng chim cùng sâu.
Có đàn không biết họp
Ong kiến hơn ta nhiều.

Có nước ta có đàn,
Sống còn trên thế gian.
Họp đàn yêu lấy nước,
Đoàn thể luyến giang san.

Chúng ta có nước tổ
Loài giống ngày sinh tụ
Hai nhăm triệu thành đàn,
Quây bọc giang sơn cũ.

Kẻ học, người canh nông,
Người buôn,kẻ bách công.
Nghiệp khác, đàn không khác.
Cùng giống, đàn cùng chung.

Cùng giống ta cùng đàn,
Họp đàn yêu giang san.
Đàn họp, nước không yếu.
Nước mạnh đàn không tan.

Ba kỳ Nam Bắc Trung,
Hai nhăm triệu một lòng.
Đoàn kết không chia rẽ,
Văn minh mở Lạc Hồng.

Lạc hồng nước tổ ta,
Giang sơn cùng cỏ hoa.
Thống nhất và độc lập
Văn minh đường không xa.

Ta trông đường văn minh,
Muôn nước cùng đua tranh.
Lòng ta yêu nước tổ,
Mong nước xiết bao tình.

Văn minh trông đường trước,
Chan chứa tình mong nước.
Mong nước ta cùng yêu,
Yêu nước cùng ao ước.

Thân ta, ta yêu ta,
Trước nên yêu nước nhà.
Thân ta ở trong nước,
Có nước thân vinh hoa.

Thân vinh nhờ nước tổ
Sức mạnh cậy đàn ta.
Hai nhăm triệu dân ta,
Đàn họp sức không nhỏ.

Họp đàn, ta nghĩ sao?
Cùng loài thương lấy nhau.
Đầu xanh đến tóc bạc,
Ghi dạ chữ “đồng bào”

Hay hèn cùng hay hèn,
Cùng nhau đừng ghét ghen.
Giang sơn cùng gánh vác,
Cuộc đời cùng đua chen.

Hăm nhăm triệu dân ta,
Họp lòng mong nước nhà.
Đoàn kết không đảng phái,
Văn minh gần không xa.

Họp đàn cùng mong nước
Cốt tự thân ta trước.
Cây cao nên rừng to,
Giếng trong từ mạch nước.

Đức sáng như nước trong
Tài nhớn cao ngất không.
Tài đức không hư kém,
Đàn, nước cùng trông mong.

Nhờ đức ta họp đàn,
Tài họp, nước khôn ngoan.
Có tài ta có đức
Đua chen cùng thế gian.

Óc khôn giời cho ta
Sự học nhờ ông cha.
Siêng năng nên tài đức.
Ngày xuân chớ nhãng qua.

Chúng ta đương ngày xuân
Việc học nên chuyên cần.
Lúc bé cố chăm học,
Mai sau rồi nên thân.

Thân ta nên tài đức
Nhân cách ấy là trước.
Tuỳ tài theo nghiệp làm,
Góp mặt cùng dân nước.

Nghiệp sĩ, nghiệp canh nông,
Nghiệp buôn, nghiệp bách công.
Sang hèn thuận cảnh ngộ,
Có nghiệp hơn ngồi không.

Giàu sang cùng hiển vinh,
Nghèo hèn thơm thanh danh.
Báo hiếu dẫu chưa đủ,
Không phụ công sinh thành.
Đây là thơ giáo khoa do Tản Đà làm cho trẻ em lên tám tuổi, viết năm 1920.

Nguồn: Lên tám, Hương Sơn xuất bản, 1953

Thảo luận cho bài: "Lên tám"

Tìm theo tác giả