Liễu Hạnh Công Chúa

Tác giả:

Truyền thuyết về công chúa Liễu Hạnh 3 lần giáng trần. Và sau đó, được dân gian tín ngưỡng phong là Đệ nhất thánh mẫu, cũng là một trong tứ bất tử của Việt Nam. Di tích lịch sử 3 lần giáng trần của bà, hiện trở thành nơi giao lưu văn hoá tâm linh của người Việt.

Sách Việt Điện U Linh Tập Lục do Lý Tế Xuyên biên tập và Kim Miện Muội Án Lục, có phần phụ lục Lịch Triều Linh Hiển Công Chúa Thần Nữ Liệt Vị, chép sơ lược sự tích ba mươi lăm vị thánh nữ, gồm 32 vị công chúa, một quận chúa và hai thần nữ. Sách Việt Điện U Linh nguyên là do Lý Tế Xuyên ghi chép từ đầu thế kỷ thứ XV và Kim Miện Muội sao chép lại trong khoảng thế kỷ thứ XVI.Trong số 35 vị nữ thần mà sự tích có ghi chép trong sách, vị công chúa có sự tích ly kỳ như một truyện thần thoại, cũng như đểâ lại nhiều vết tích trong tập tục, tín ngưỡng và văn học Việt Nam là công chúa Liễu Hạnh, tức công chúa Vân Nương hay thánh Mẫu Phủ Giầy. Ngày nay còn nhiều đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nổi tiếng nhất là đền Sòng hay Sùng Sơn tại Thanh Hóa, đền Phố Cát ở xã Phố Cát, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa và đền An Thái, ở xã An Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Trong nhiều chùa còn có hậu sảnh bầy bàn thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh. Trong những ngày hội Thánh Mẫu, người ta còn tổ chức những buổi kéo chữ như để diễn lại cảnh Thánh Mẫu về trời.

Trong ba cuốn Di Sản Hán Nôm Việt Nam thư Mục Đề Yếu có ghi ba mươi tài liệu chữ hán và chữ nôm chép nhưng giáng bút cùng sự tích Thánh Mẫu Phủ Giầy (xem phần sách tham khảo). Các tài liệu này còn chép chung giáng bút của những vị thánh quen biết trong thần thoại và lịch sử Việt Nam, tỷ như đức thánh Trần Hưng Đạo, đức thánh Gióng hay Phù Đổng ThiênVương, Thần Tản Viên, thần Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung, v.v… Nội dung những bản giáng bút này thường mang tích cách khuyến thiệân, khuyên người ta ăn hiền ở lành tu nhân tích đức để tâm thân được thư thái an nhàn.

Trong dòng văn học truyền thống bằng chữ quốc ngữ có bản Truyện Đức Thánh Mẫu Phủ Giầy do Kim Đức Giang Ấn Quán xuất bản năm 1923 tại Hà Nội. Đây là một áng thơ gồm 278 câu lục bát, kèm theo một bản chữ nôm và lời chú thích.
Tiểu sử công chúa Liễu Hạnh, trong dòng cổ tích truyền miệng, mang mầu sắc thẫn thoại như thấy rõ bản ghi của Hoàng Trọng Miên sau đây

Vào năm Thiên Hựu, đời Hậu Lê (1557) ở thôn An Thái, làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ngày nay, có nhà họ Lê Thái Công vốn là người phúc thiện. Thái Bà gần đến kỳ sinh nở mắc phải bệnh suy nhược, chỉ thích ăn toàn hoa quả, không thuốc men nào chữa khỏi.

Một hôm, có một vị đạo sĩ đến ra mắt, xin chữa bệnh cho phu nhân. Trưóc bàn thờ đạo sĩ đọc thần chú, rồi ném cái búa ngọc xuống đất. Lê Thái Công bỗng nhiên ngã ra bất tỉnh, thấy mình bay lên Thiên Đình. Tới Thiên Đình, Lê Thái Công được dự một bữa tiệc lớn của Ngọc Hoàng khoản đãi. Lê Thái Công thấy công chúa Quỳnh nương lỡ tay làm rớt chén ngọc, bị đầy xuống trần. Lê Thái Công bỗng tỉnh lại và hay tin phu nhân vừa sinh được một cô con gái. Thái Công sung sưóng đặt tên con là Giáng Tiên.

Lớn lên, Giáng Tiên thông thạo thơ văn lại giỏi nghề đàn sáo, soạn ra nhiều bản nhạc đặc sắc. Năm 18 tuổi nàng kết duyên cùng Đào Lang, con nuôi một vị hưu quan, họ Trần, cùng làng.

Ba năm sau, vào ngày mồng ba tháng ba, Giáng Tiên đột ngột từ bỏ cõi trần trở về thượng giới. Song Ngọc Hoàng thấy nàng chưa hết hanï đi đầy, bắt nàng phải trở xuống thế gian. Lần nàng xuất hiện dưới dạng một vị nữ thần, có hai ngọc nữ là Quế Nương và Thị Nương theo hầu. Theo lệnh Thiên Hoàng, ba vị tiên nữ hiện xuống giữa ban ngày ở vùng Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa.
Ba người tiên lập chỗ trú ngụ giữa một nơi phong cảnh kỳ tú. Chẳng mấy chốc cả vùng đều biết tiếng vì những thần pháp linh ứng của ba người tiên. Dân chúng tỏ lòng biết ơn, xây một ngôi đền lớn tựa lưng vào núi để thờ phụng.
Công chúa Liễu Hạnh thường giáng lâm ban phúc cho dân gian. Triều đình nghe danh, sắc phong làm Thượng Đẳng Phúc Thần.

Vào cuối đời Lê, có mộtï vị lão quan ngoài 80 tuổi, một hôm nằm mộng thấy công chúa Liễu Hạnh đi giữa hai ngàn thể nữ mang đến cho ông một chiếu sắc của Ngọc Hoàng. Sau đó ông thấy công chúa Liễu Hạnh lên xe mây, cờ xí trùng trùng điệp điệp dẫn đường cùng vô số nhạc công đàn sáo nhã nhạc theo sau. Ông liền giật mình tỉnh dậy. Ngươiø ta đoán rằng công chúa đã mãn
hạn lưu đầy ờ trần thế và khi đó trở về trời. […]

Sau khi công chúa Liễu Hạnh về trời, hai tiên nữ Quế Nương và Thị Nương thường đứng ra làm trung gian cho các tín đồ trong đại chúng muốn cầu xin công chúa. Dân gian đặt niềm tin ở công chúa Liễu Hạnh, lập đền thờ trọng thể ở Phủ Giầy, Nam Định, nơi công chúa đầu thai xuồng trầân và ở Phố Cát và đền Sòng tại Thanh Hóa là nơi công chúa giáng trần lần thứ hai. Tại Hà Nội có đền Sùng Sơn thờ vọng công chúa tại đường Hàng Bột. Hàng năm, đến ngày húy công chúa Liễu Hạnh, con công đệ tử tưng bừng rước sách, dân chúng nô núc trẩy hội.

Hình ảnh công chúa Liễu Hạnh về trời, trong giấc mơ của vị lão quan trong truyện thần thoại trên đây, tới nay còn là nguồn cảm hứng của nhiều nhà khắêc mộc bản, xem phụ bản 3. Ngoài ra hình ảnh công chúa Liễu Hạnh về trời nay ăn sâu vào tập tục của ngưới Việt Nam trong những ngày lễ hội với những buổi lễ kéo chữ.

Mầu sắc thần thoại về công chúa Liễu Hạnh còn sâu đậm hơn trong những truyện cổ tích về công chúa Liễu Hạnh truyền miệng trong giáo chúng theo phái Nội Đạo. Tục truyền kể rằng tổ sư phái nội đạo là Chử Đồng Tử, chồng của công chúa Tiên Dung, con gái của vua Hùng Vương thứ ba. Chử Đồng Tư, sau ghi gạêp một đạo sĩ trẻ tên là Phật Quang thì từ bỏ việc buôn bán với người nước ngoài và cùng vợ đi tìm thầy học đạo. Nhờ vậy mà công chúa Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử xây dựng thành quách trong một đêm, rồâi khi vua cha phái quân lính tới đã không chống cự mà làm nổi gió bão khiến trong chốc lát thành quách cung điện đều cùng công chúa và chồng bay lên trời. Chỗ xây thành quách cung điện hoá thành một cái đầm lớn.

Đại chúng gọi là đầm Nhất Dạ.

Đến đầu thế kỷ thứ XVII, phái Nội Đạo có một vị Thượng Sư rất nổi tiếng,tên là Trần Toàn, gốc người làng Yên Đông, huyện Quảng Xương, phủ Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, con của Quỳnh Lâm Hầu. Trần Toàn theo nghiệp nhà ra làm quan, nhưng gặp thời nhà Mạc tiếm ngôi nên cáo quan về làng chuyên tâm học đạo Thần Tiên, làm việc thiện, sửa sang chùa chiền đắêp đường xá, xây cầu đào giếng giúp đời. Công đức của Trần Toàn động đến lòng Trời Phật. Phật Dược Sư hiện xuống thử lòng rồi truyền cho pháp thuật nhiệm mầu, xẻ đất lật núi như trở bàn tay, nhìn vào gương thấy được việc trên trời dưới đất. Lại kiêm cả tài trị thuốc cứu được vua Lê Thần Tông khỏi bạo bệnh. Khiến nhà vua ngự giá vào Thanh Hóa ngỏ ý mời Thượng Sư giữ chức Quốc sư. Thượng sư một lòng khưóc từ xin được ở lại quê làng an bần lạc đạo. Khi Thượng sư hóa thành Phật, vua Lê sắc phong chức Phục Ma Thượng Đẳng Phúc Thần.

Thượng sư có ba người con trai tên là Nhật Quang, Nguyệt Quang và Ngọc Quang. Cả ba cùng thi đỗ đại khoa, song không ra làm quan, theo gương cha già, trở về quê an bần lạc đạo, tu tâm dưỡng tính, tận tâm cứu giúp người người. Thiên hạ coi như ba vị Phật sống. Ít lâu sau, Nhật Quang và Nguyệt Quang lên đường hành đạo. Ngọc Quang ở lại làng mở trường truyền bá Nội Đạo. Mối tương quan giữa công chúa Liễu Hạnh và ba anh em Nhật Quang, Nguyệt Quang và Ngọc Quang, theo truyền khẩu như sau:

Thời bấy giờ, công chúa Liễu Hạnh đang sống ở trần thế. Khi thì công chúa giả làm thiếu phụ qua đường, lúc làm cô gái bán hàng để trêu ghẹo thiên hạ. Ai trái ý công chúa đều bị hại. Dân chúng cả vùng Sơn Nam đều lấy làm sợ hãi.

Sau đó công chúa đi vào Thanh Hóa, đến miền
Sòng Sơn, thấy phong cảnh kỳ tú, bèn ở lại luôn đó. Ngay đêm công chúa giáng lâm, kỳ hào các làng trong vùng đều mộng thấy phải lập tức xây đền thờ công chúa, bằng không cả xứ phải chịu cảnh tàn hại. Tiếp đó, luôn trong năm ngày liền dân làng nhiều người vô cớ lăn ra chết. Người ta đành theo lời báo mộâng lập đền thờ công chúa tại Sòng Sơn.


Liễu Hạnh Công Chúa

Tại vùng này công chúa thường hóa làm một cô gái đẹp bán chè rong. Trai trẻ nho sĩ ai lỡ trêu ghẹo đều bị thiệt mạng. Vì thế trong khắp vùng không một ai dám cả gan tới gần đền thờ. Các hung thần ác quỷ kéo nhau đến làm thuộc hạ rồi thi nhau quấy nhiễu dân chúng. Ban ngày người ta nghe tiếng chiêng tiếng trống, ban đêm tiếng đàn tiếng hát vang lừng. Âm dương lẫn lộn, quỷ với người trà trộn .

Trước tình cảnh này, các quan dâng sớ về Triều, nhà vua bèn sai các thầy pháp cao tay đến trừ khử. Song tất cả thầy pháp, chưa đi đến nơi cũng đã đều bị hạ. Triều đình cũng đành bó tay không có cách nào khác đối phó. Từ đó công chúa Liễu Hạnh càng lộng hành: treo ngược ông tiên chỉ lên cành cây bỏ đói đến chết, quẳng cả tượng hình Thành Hoàng xuống giếng. Khắp nơi, đêm ngày hễ nghe thấy tiếng động đáng ngờ là người người vộïi tránh xa, khép chạêt cửa không dám hó hé nửa lời.

Hồi bấy giờ, vua Lê, có chúa Trịnh theo hầu, ngự giá về thăm quê tổ tại Lam Sơn, Thanh Hóa. Tùy tùng cùng ông hoàng bà chúa, thể nữ cung tần theo xa giá rất đông. Khi xe vua tới ngang đền Sòng Sơn, công chúa Liễu Hạnh sai âm binh ra chăn đường. Các quan triều, cùng đám cung tần ai không xuống ngựa nghiêng lọng đều bị quật ngã chết giấc. Vua Lê chúa Trịnh, trước việc kỳ lạ, nổi giận nhưng cũng đành quay về kinh đô, rồi sai sứ loan truyền: bất kỳ ai trừ nổi ma quái thì cũng sẽ được ban thưởng vàng bạc chức tước. Nhiều người hưởng ứng lời sứ truyền, nhưng không ai thành công. Nhà vua than thờ: Bây giờ họa chăng có có Thượng Sư Nội Đạo tái sinh mới trừ nổi ác thần cứu nguy cho dân. Một vị cận thần tâu: Thượng Sư còn người con thứ ba, tên là Ngọc Quang, hiện đang tu luyện tại làng Từ Ninh, huyện Hằng Hóa. Vua bèn sai sứ gia mang chiếu chỉ tới mời. Ngọc Quang nhận lãnh chiếu chỉ, nhưng tỏ ý thoái thác nói rằng mình đang dốc lòng học đạo, không còn nghĩ đến truyện tranh đua, và cúi xin nhà vua chỉ định người khá vua
Bỗng một hôm, nhà vua năm mộng thấy hiện ra một vị thần tâu rằng: Ngọc Hoàng đã có chỉ thị cho phương sĩ phái Nội Đạo đi trừng phạt nữ quái Sòng Sơn, xin bệ hạ cho người đi triệu lần nữa. Tỉnh dậy, vua Lê sai vời chúa Trịnh đến, kể lại lời thần báo mộng. Chúa Trịnh tâu lên vua cử sứ giả vào Thanh lần thứ hai. Gặp Ngọc Quang, sứ giả tha thiết bày tỏ ý định của nhà vua: Vâng lệnh thánh chỉ, tôi vào đây mời ngài ra tay trừ hại cho dân. Nếu ngài từ chối lời vời của Hoàng Đế tức là ngài bỏ mặêc dân sống chết trong tay áu rằng:

Ngọc Quang cho hội họp môn đệ, thông báo lệnh hiệu triệu của nhà vua, rồi quyết định ngày lên đường ra kinh dô, cùng hai anh.

Đến Thăng Long, ba anh em cùng vào cung chầu vua. Vua Lê cùng chúa Trịnh mở yến tiệc khoản đãi. rồi ban cho vàng bạc châu báu vàng lụa gấm vóc và mời ba người trổ tài. Ba anh em Ngọc Quang cùng chỉ gậy vào món đồ thưởng qúy giá, tức thì tất cả đều biến thành tro bụi, như khi thu gậy lại tất cả lại trở lại y như cũ. Sau mấy câu thần chú, triều thần bỗng thấy đồi núi trùng trùng điệp điệp hiện chuyển qua sân rồng, ròâi các món ăn mặên trên bàn tiệc biến thành món ăn chay. Vua chúa cùng lấy làm kính phục, tin chắc rằng phen này nhờ ba anh em Ngọc Quang mà nạn yêu quái hại dân sẽ tận diệt, và phong chức thượng tướng thống lãnh ba quân đi trừ yêu quái.Quân sĩ trẩy tới đèo Tam Điệp thì được lệnh hạ trại. Bóng cờ rợp trời, tiếng trống vang xa. Tuy nhiên dân chúng vẫn chưa hết lo ngại.

Công chúa Liễu Hạnh nghe tin báo tự nhủ,: Ta là con gái Ngọc Hoàng, sợ gì người trần thế! Kẻ nào dám xúc phạm tới ta ta sẽ xuống tay giết hại không chút thươo tự

Ngọc Quang cải trang làm khách qua đường, kiếm giắt sau lưng, cỡi ngựa trắng, một mình dạo đi dạo lại trước cửa đền Sòng Sơn. Công chúa Liễu Hạnh từ trên cao nhìn xuống, biết không phải người thường, trong lòng thoáng chút e ngại, bèn trở về đền, ngồâi suy nghĩ, chưa vội ra tay.

Ngọc Quang xuống ngựa, tuốt gươm vạch một lằn trước cửa đền, rôi dắt ngựa đến uống nước ở dòng suối thiêng. Công chúa Liễu Hạnh thấy thế bèn ra hỏi:

– Qúy khách không quản ngại đường xa tới đây, ta hân hạnh đón tiếp một bậc xuất chúng, vậy xin mời người quá bộ vào trong đền.

Ngọc Quang đáp:

– Đã từng gặp nhau ở thiên đình, nay nghe công chúa sắp mắc nạn lớn, nên xin đến tiếp tay công chúa. Từ độ giáng trần, công chúa từng nhiều lần chứng tỏ quyền phép, công chúa trở tay đủ làm ma qủy thần linh kính phục, công chúa nhấc chân thì mây kéo mưa tuôn. Quả là một nữ thần quyền oai lừng danh xuất sắc. Chỉ tiếc là đôi lúc ra oai không chút nương tay, giết hại sinh linh không ít, khiến vua giận chúa tức phải vời đạo sĩ ra tay cự lại công chúa. Tôi e quả bất địch chúng, rồi lỡ xầy truyện không xứng ý vì tay người trần thì không khỏi có điều tai tiếng cho thượng giới. Cho nên tôi mới tới đây để thấy tận mắt phép thuật của công chúa, bằng như công chúa hỏi tới thì xin hết lòng phò trợ.

Công chúa Liễu Hạnh mừng rỡ đáp:

– Ta bị đầy xuống trần đã nhiều năm. Ý ta nào có muốn gây chết chóc khiến thiên hã sợ hãi đâu. Song người trần không rõ phép ta, nhà vua không vinh danh ta, khiến ta phải xuống tay tỏ rõ uy quyền. Giờ đây ta như người ngồi trên lưng cọp, như kẻ bơi giữa dòng sông, biết làm sao đây. Tai họa sắp tới, bằng đạo hữu có lòng trợ giúp, ta xin nghe theo, ơn ấy ta ghi xương khắc cốt. Biết được pháp thuật gì ta sẽ trình đạo hữu rõ, thiếu xót điều chi xin nhờ đạo hữu chỉ dẫn.

Nói rồi công chúa Liễu Hạnh vòng tay trổ các phép thần. Ngọc Quang lấy ra một vuông vải điều phủ lên hai tay công chúa, ngầm thu hết phép của công chúa. Công chúa Liễu Hạnh thực lòng không ngờ, trổ tài xong, lên tiếng hỏi Ngọc Quang:

– Đạo hữu xem với phép thuật ấy, liệu đủ chống lại thiên hạ không?

Ngọc Quang đáp:

– Phép thuật công chúa thật quả khôn lường! Tôi chưa từng thấy ai có pháp thuật tinh diệu đến mức ấy. Trên thế gian này quả không còn ai theo kịp nổi.

Công chúa Liễu Hạnh sai bày tiệc khoản đãi

Ngọc Quang; lại gọi thể nữ ra múa hát giúp vui. Ngọc Quanh ngoảnh mặt nhìn đi, rồi vội vã đứng dậy cáo từ. Công chúa Liễu Hạnh, bỗng giật mình, đập tay xuống bán, đùng đùng nổi giận thét lên:

– Ta bị gạt rồi.

Lập tức công chúa Liễu Hạnh ra lệnh cho triệu đủ mặt thần Sông thần Núi ở khắp ba cõi thế gian gấp về tề tựu chờ lệnh. Thếâ là sông núi thay hình đổi dạng, gió thúc ầm ầm, sông nước dâng cao.

Nhật Quan và Nguyệt Quang đứng trên núi cao,
thấy vậy cả cười. Ngọc Quang về tới trại, liền ban lệnh cho các thiên tướng đôn đốc quân sĩ, sắp thành hàng ngũ để ra trận. Bát Bộ Kim Cương chỉ huy cánh quân tiền đạo. Hắc hồ thống lĩnh tả quân, Bạch Xà chỉ huy hữu quân. Toán trung phong do các thần Lục Đinh Lục Giáp điều động. Mười hai vị thiên tướng theo sau hậu tập. Ba phát súng lệnh nổ vang, đại quân theo cờ tiến lên, vây chăt đền Sòng Sơn của công chúa Liễu Hạnh.

Luôn trong ba ngày liền gió lớn không ngừng, mưa tuôn xối xả. Trên rứng cây cối trốc gốc. Dưới sông dưói biển sóng cuộn ngập trời. Trong làng trong xóm nhà cửa bị gió cuốn bay, Súc vật xổ chuồng tán loạn, người ngưòi hoảng sợ tìm chỗ ẩn núp. Sinh linh chết hại không sao kể xiết. Máu đỏ chẩyï ngập sông hồ.

Hàng quân tiền đạo của công chúa Liễu Hạnh tan vỡ. Các hung thấn ác quỷ chỉ huy bỏ trốn vào rừng sâu. Công chúa Liễu Hạnh và đám tùy tùng phải rút vào trong đền.

Sáng ngày hôm sau, Ngọc Quang ngồi trên bành voi trắng chín ngà, cùng các thiên tưóng tiến lên sáp công, dùng lưới sắt vây kín khu đền. Hai tiên nữ Quỳnh Hoa và Quế Hoa, hầu cận công chúa vượt vòng vây trốn thoát. Ba anh em Ngọc Quang ra lệnh thiêu hủy tất cả các đền miếu thờ công chúa Liễu Hạnh trên khắp nơi trong nước. Lửa cháy mười ngày mới tắt…

Không còn biết trông cậy vào ai khác, công chúa Liễu Hạnh ngẩng nhìn trời rớt nước mắt. Tiếng chiêng tiếng trống thúc quân mỗi phút một gần.
Công chúa Liễu Hạnh cải trang thành một nam tử vượt qua vòng vây chạy trốn. Quân lính đuổi theo. Kiệt sức công chúa Liễu Hạnh hoá thân thành một con rồng trốn xuống lòng giếng sâu.
Ngọc Quang cho giăng lưới bít mọi lối thoát, rồi dùng móc đồng bắt được công chúa giải vèâ kinh đô. Ba anh em Ngọc Quang thân dẫn công chúa vào sân rồng. Đức Phật Nam Hải Quán Thế Âm thấy tình thế nguy ngập của công chúa Liễu Hạnh, bèn cỡi mây xuống cứu. Ba anh em Ngọc Quang thấy mây năm sắc trên trời vội vàng cúi chào. Từ trên xe mây, Đức Phật Nam Hải Quán Âm nhắn nhủ:

– Công chúa Liễu Hạnh vốn là con gái út Ngọc Hoàng, lỗi lầm dầu nặng, nhưng vẫn còn phương hối cải, vậy lần này các ngươi hãy thả công chúa để công chúa theo ta tu tâm sửa tính để cải tà quy chánh.

Công chúa Liễu Hạnh cúi mặêt khóc, tay chỉ Ngọc Quang mà tâu Phật:

– Con chót lỡ lầm, từng có ý sám hối, nhưng người kia không chút động từ tâm, chứ con đâu dám ngang nhiên chống đối. Xin đức Phật Nam Hải Quán Âm đoái thương cứu con thoát khỏi vực sâu.

Ngọc Quang nói:

– Công chúa quyết tâm như vậy, xin phát nguyện và xin Đức Quán Âm chứng giám.

Công chúa Liễu Hạnh tạ từ

– Ta xin cảm tạ người, Lầm lỗi chỉ một lần, từ nay ta sẽ náu mình cửa Không noi theo chánh đạo.

Ngọc Quang truyền dâng công chúa một tấm áo cà sa. Công chúa theo xe mây Đức Phật Quán Âm khuất dạng.

Trận chiến tranh trong thần thoại trên đây tục gọi là Sòng Sơn Đại Chiến. Từ đó công chúa Liễu Hạnh không còn gây kinh hoàng cho mọi người. Triều đình sắc phong là Nữ Hoàng Công Chúa, rồi phong thêm là Chế Thắng Đại Vương. Đại chúng sùng bái tôn là Thánh Mẫu. Thánh Mẫu tiếp tục giáng lâm trong đầu thế kỳ XX, ngày nay trong các thư viện lớn còn giử đươc hai mươi sáu bản giáng bút của Thánh Mẫu (xem phần Sách Tham Khảo). Nội dung thường thường là khuyến thiện. Một vài bản có ghi sự tích Thánh Mẫu. Một bản còn chép một số đơn thuốc chữa bệnh.

Thần thoại trên đã in sâu vào tập tục của người Việt Nam khiến ngày nay trong nhiều ngôi chùa, đằng sau ban thờ Đức Phật Quán Âm thường có ban thờ nhỏ thờ công chúa Liễu Hạnh. Riêng tại đền Phố Cát có ba tòa đền, gọi là tòa đệ nhất, đệ nhị và đệ tam, tức Hậu Cung. Trên ban thờ hậu cung có ba pho tượng: chính giữa là một pho tượng khoác áo cà sa, một bên là pho tượng tiên nữ; bên kia là pho tượng cô gái trần gian, như để nhắc nhở tới ba giai đoạn chính trong sự tích công chúa Liễu Hạnh.

Chùa Hương Tích, một cảnh Phật thờ đức Nam Hải Quan Âm Diệu Thiện, cũng có một số động thờ Mẫu: kế chùa Giải Oan là Am Phật Tích có ban thờ Mẫu Thoải; cách đó không xa ở núi Trấn Long có đền Cửa Võng thờ Mẫu Thượng Ngàn; bên trái chùa Giải Oan có động Tuyết Kinh, thờ Mẫu Cửu Trùng.

Trong dòng tín ngưỡng linh môi, Thánh Mẫu Cửu Trùng, hay Thánh Mẫu Thiên Phủ hay Thánh Mẫu Thượng Thiên là danh hiệu của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị nữ thánh đứng đầu Tam Phủ, cai quản mọi việc trên Trời, cùng thống lĩnh chư thánh nhà Trời. Dưới Thánh Mẫu Thượng Thiên có Thánh Mẫu Thượng Ngàn cai quản mọi viêc trên ngàn. Thứ ba là Thánh Mẫu Thoải coi xóc mọi việc trên sông biển.

Theo dòng tín ngưỡng linh môi Tứ Phủ, ngoài ba vị thánh mẫu kể trên còn Thánh Mẫu Nhạc Phủ thống lãnh chư thánh tại trần gian.

Theo tục truyền, Thánh Mẫu Thượng Ngàn là con gái thần Tản Viên, cai quản 81 cửa rừng cõi Nam Giao. Thánh Mẫu đã từng hiển linh giúp quân nhà Lý đánh quân nhà Tống, giúp quân nhà Trần phá quân Nguyên, và từng hóa ra ánh sáng dẫn đường cho Bắc Bình Vương Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi thoát vòng vây quân Minh. Có người nói là Thánh Mẫu Nhạc Phủ là một tước hiệu khác của Thánh Mẫu Thượng Ngàn.

Thánh Mẫu Thoải, hay Thánh Mẫu Thủy Phủ chính là Tam Giang Công Chúa, con gái thứ ba của vua Lạc Long quân. Thánh Mẫu coi sóc các cửa biển, sông hồ, chủ yếu làm mưa, tưới nhuần cây cối. Thánh Mẫu Thoải thường dùng thuyền lan chèo quế tiêu dao khắp 36 động tiên. Tục rước nước tại nhiều nơi là để nhớ ơn Thánh Mẫu Thủy Phủ, thương dân làm mưa thuận gió hòa.

Tìm hiểu sâu rộng về hai dòng tín ngưỡng linh môi Tam Phủ và Tứ Phủ là một vấn đề chờ các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng tìm ra giải đáp.

Truyện thần thoại trên đây còn in sâu hơn vào tín ngưỡng đại chúng. Trong phái Nội Đạo, ngoài công chúa Liễu Hạnh còn thờ nhiều vị thần linh của dân tộc Việt Nam, như Đức Thánh Chử Đồng Tử, Đức Phù Đồng Thiên Vương, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Công chúa Tiên
Dung, Thần Tản Viên v.v…

Câu hỏi là vì sao đại chúng tôn vinh công chúa Liễu Hạnh vào hàng tứ bất tử, ngang hàng cùng ba vị thần linh từ đời tiền sử Hùng Vương? Phải chăng là công chúa Liễu Hạnh và cả ba vị thánh này: Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương và Thần Tản Viên đều cùng bất tử? Trả lời câu hỏi này không cách nào hơn là đọc lại sự tích của ba vị thánh giáng lâm từ đời Hùng Vương chép trong sách Lĩnh Nam Chích Quái, một tập sách chép những truyện truyền thuyết cổ tích, xuất hiện từ đời nhà Trần của Vũ Quỳnh và Kiều Phủ. Bắt đầu là

Truyện Nhất Dạ Trạch

Vua Hùng Vương thứ ba hạ sinh được một người con gái đặt tên là Tiên Dung. Đến năm 18 tuổi, dung mạo đẹp đẽ nhưng công chúa không muốn lấy chồng, chỉ mải vui chơi, chu du khắp thiên hạ. Vua cha cũng không ngăn cấm. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba, công chúa sai sắm sửa thuyền rồng ngao du ngoài biển, vui thú quên trở về.

Hồi đó ở làng Chử Xá, cạnh một con sông lớn có người dân tên là Chử Vi Vân, sinh hạ được một người con trai tên là Chử Đồng Tử. Cha từ con hiếu, bỗng nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, còn lại độc nhất một cái khố vải, cha con thay nhau mà mặêc. Kịp đến khi nguời cha già ốm, bảo con rằng: Cha chết cứ để trần truồng mà chôn, giữ khố lại mà mặc. Người con không nỡ làm theo lời bố, dùng khố mà ốm, bố. Đồng tử từ đó sống trần truồng, câu cá đổi lấy thức ăn với đám thuyền buôn qua lại.

Chợt thấy thuyền công chúa Tiên Dung tới, chiêng trống đàn sáo tưng bừng, Đồng tử hoảng sợ, trốn vào đám lau sậy trên bãi cát, bới cát thành hố nằm xuống đó rồi phủ cát che thân. Thoắt sau, công chúa Tiên Dung sai cắm thuyền lên bãi cát dạo chơi, rồi sai quây màn trong khóm lau sậy mà tắm.

Vào màn, công chúa Tiên Dung dội nước trôi cát, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung giật mình, hồi lâu nói với chàng trai:

– Ta vốn không muốn lấy chồng, nay gặp ngươi, cùng ở trần trong một hố, đó chính là trời sui nên vậy.

Bèn sai tắm rửa, lại ban quần áo rồi cùng xuống thuyền mở tiệc ăn mừng. Người trên thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng từ kể lại vì sao chàng nấp ở đấy. Công chúa Tiên Dung thán phục, và tính chuyện vợ chồng. Đồng Tử lo sợ cố từ. Công chúa nói:

– Đây là do trời chắp nối, sao cố chối từ?

Người theo hầu vội mật tấu về với vua. Vua Hùng nói:

– Tiên Dung không thiết danh tiết, không màng của cải của ta, ngao du cảnh ngoài, hạ mình lấy kẻ bần phu, trời đã xui nên việc như thế. Từ nay không được về nước trông thấy ta nữa.

Tiên Dung nghe tin, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố phường, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành một cái chợ lớn. Phú thương nướùc ngoài tới buôn bán, tôn Tiên Dung, Đồng Tử làm chúa. Có người lái buôn giầu nói rằng:

– Qúy nhân bỏ một dật vàng ra ngoài biển mua vật qúy, sang năm có thể thành mười dật.

Công chúa Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử:

– Vợ chồng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, nay hãy đem vàng ra biển ngoài buôn bán.

Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏø, bọn lái buôn thường ghé thuyền vào đó lấy nước ngọt. Đồng Tử lên am chơi, găp một tiểu tăng tên gọi là Phật Quang, truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao vàng cho bọn lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am đón Đồng Tử về. Tiểu tăng tạêng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà rằng:

– Linh thiêng ở những vật này đây.

Đồng tử trở về, nói đạo cho công chúa Tiên Dung. Công chúa giác ngộ, bỏ phố phường, cơ nghiệp, rồi cả hai vợ chồng đi tìm thầy học đạo. Trên đường học đạo, một hôm, trời tối mà chưa tới thôn xóm, hai người cắm trượng che nón đủ trú thân. Đến canh ba, bỗng thấy hiện ra thành quách, lầu vàng điện ngọc, đền đài dinh thự, phủ kho miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nử, tướng sĩ thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai thấy cũng kinh ngạc, đem hương hoa thức qúy tới dâng và xin làm bầy tôi. Có văn võ bá quan, có quân túc vệ, đủ lập thành nước riêng.

Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái dấy loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần tâu công chúa và Đồng TửÛ ra quân chia nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà rằng:

– Điều đó ta không muốn làm, do trời định thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại vua cha. Ta nguyện theo lẽ chính, mặêc cho đao kiếm chém giết.

Dân mới theo kinh sợ di tản. Quan quân vua Húng tới châu Tự Nhiên còn cách thành quách của công chúa Tiên Dung và Đồng tử một con sông lớn thì, trời tối bèn hạ trại.

Nửa đêm gió lớn, thổi bay cát, trốc gốc cây, quan quân sợ hãi hỗn loạn. Bên phía công chúa Tiên Dung và Đồng Tử, thành quách phút chốc bay lên trời, chỗ đất đó sụt xuống thành một cái đầm lớn. Dân chúng bèn lập miếu thờ, gọi đầm là Nhất Dạ Trạch, gọi bãi là bãi Mạn Trù, gọi chợ là chợ Thám hay là chợ Hà Lương.

Thần thoại về công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử bám rễ sâu vào tâïp tục và tín ngưỡng đại chúng qua truyện truyền kỳ rất phổ thông tại vùng làng Đa Hòa, phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, nơi co ùđền lớn thờ phụng Chử Đồng Tử, như sau:

Công chúa Tiên Dung cùng chử Đồng Từ, sau khi đắc đạo thường cùng nhau viếng thăm danh lam thắng cảnh trong nước. Một ngày kia, đến địa phận làng Ông Đình, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, hai người gặp một cô gái tuổi chừng đôi chín, đẹp tựa chim én bay. Công chúa Tiên Dung chỉø cô gái mà nói:

– Chàng muốn lấy người đẹp kia làm thiếp không?

Chử Đồng Tử cười mà không nói, Công chúa Tiên Dung đến gần cô gái và nói:

– Em ơi, em là tiên hay là người trần? Em là thần gió hay là thần hoa? Chồng ta là kẻ lỗi lạc, xuất chúng, em có nhận lời làm thiếp cũng chẳng phải là không xứng. Nếu được cùng em kết làm chị làm em thì thật là mãn nguyện cho ta.

Cô gái đáp:

– Thật ra thiếp là tiên nữ ở Tây Điện, đội lốt người phàm. Cuộc găp gỡ ngày hôm nay phải chăng do ý trời định, hay chỉ là sự tình cờ của người thế gian?

Công chúa Tiên Dung nói:

– Đúng là do ý trời! Song le người ta thường dự định rồi nhờ trới tác thành. Trong ý trời định ắt cũng có phần con người dự tính.

Đoạn hai người thề nguyện kết làm chị em, rồi cùng ra mắt Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử sai bày tiệc lớn, đón tiên nữ Tây Điện về chung sống cùng công chúa Tiên Dung.

Chử Đồng Tử cùng công chúa Tiên Dung và Tiên Nữ Tây Điện nổi danh chữa bệnh thần tài. Vào thủa đó, dân làng Ông Đình có năm sáu người chết sắp đem an táng. Đồng tử nói cùng công chúa Tiên Dung và Tiên Nữ Tây Điện:

– Ta học được phép Đạo, có thể khiến người chết sống lại. Giờ ta muốn cứu mấy người mới chết kia. Hai nàng có muốn cùng đi không?

Tiên Nữ Tây Diện nói:

– Cứu người là một việc lành, lẽ nào chị em thiếp không xin theo.

Đến nơi, Chử Đồng Tử niệm thần chú, chĩa gậy vào xác chết. Tức thì người chết sống lại đòi ăn uống. Mọi người mừng rỡ, mời Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung và Tiên Nữ Tây Điện về nhà tạ ơn. Dân chúng mang đến nhiều tặng phẩm và có người thưa rằng:

– Trong xã hiện có nhiều người bệnh nặng sắp chết, xin ngài ra tay cứu độ.

Chử Đồng Tử đáp:

– Đợi cho họ chết rồi ta đến cứu.

Tiên Nữ Tây Điện nói với chồng:

– Chàng cứu được người chết sống lại, thiếp có thuật chữa cho hàng trăm người khỏi bệnh cùng một lúc.

Chử Đồng Tử cùng công chúa Tiên Dung yêu cầu Tiên Nữ Tây Điện thi hành bí quyết nhiệm mầu. Tiên Nữ Tây Điện lấy giấy trắng, viết chữ son lên, rồi đốt thành tro đem hòa vào nước lã. Người bệnh uống nước ấy tức thì lành bệnh. Trướùc sự mầu nhiệm này, đại chúng lập đền thờ Đa Hòa nay còn hương khói thờ phụng Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung và Tiên Nữ Tây Điện,. Tại xã Yên Vĩnh, huyện Châu Giang tỉnh Hải Hưng háng năm mở hội tưởng niệm Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung và Tiên Nữ Tây Điện..

Sử cổ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hai lần chép sự kiện liên quan tới truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Lần thứ nhất trong kỷ nhà Tiền Lý như sau:

Vua họ Lý húy Bôn, người Thái Bình phủ Long Hưng. Tổ tiên người Bắc (Trung Quốc), cuối đờøi Tây Hán, khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được bẩy đời thì thành người Nam. Bấy giờ các thú lệnh tàn bạo hà khắc, vua dấy binh đánh đuổi, xưng làm Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên. Năm ất sửu (545) vua nhà Lương, Trung Quốc sai Trần Bá Liên đem quân sang lấn nước Vạn Xuân. Năm đinh mão (547) tướng của vua Lý Bôn là Triệu Quang Phục chống chọi với Trần Bá Tiên không phân thắng bại. Nhưng quân của Bá Tiên rất đông. Quang Phục liệu thế không chống nổi được, lui về giữ chằm Dạ Trạch. Chằm này ở huyện Chu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có thớt đất cao có thể ở được, bốn chung quanh bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống bằng sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối thì không biết cách nào mà vào. […] Quang Phục thông thuộc đường lối, đem hai vạn quân vào đóng trong nền đất trong chằm, ban ngày thì tuyệt không để khói lửa dấu người, ban đêm thì dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh Bá Tiên, giết và bắt được rất nhiều, cướp được lương thực, làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không thắng nổi. Người trong nước gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương. Đầm Dạ Trạch là cái đầm tạo ra trong một đêm, khi vợ chồng công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử không giao chiến với quân vua cha, mà biến lên trời mà thành.

Lần thứ hai sử cổ ghi truyện Chử Đồng Tử là truyện Triệu Việt Vương. Khi vua Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục bèn xưng vương, đóng đô tại Long Biên, sau dời sang Vũ Ninh. Truyện Triệu Quang Phục gặêp thần nhân Chử Đồng Tử như sau:

Năm Kỷ Tỵ (549) Triệu Viêït Vương thấy quân Lương không lui, mới đốt hương cầu đảo, khấn vái trời đất thần kỳ. Bấy giờ Triệu Việt Vương được phép lạ, đội mũ đầu mâu ngù móng rồng đánh giặc; từ đấy quân thanh lừng lẫy, đến đâu cũng không ai địch nổi. Tục truyền rằng thần nhân trong chằm là Chử Đồng Tử thường cỡi rồng từ trên trời xuống, trút móng rồng cho vua, bảo cài lên mũ đầu mâu để đánh thắng giặc.

Sách Thành Hoàng Làng Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, cho biết thần tích xã Xuân Linh, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, chép sự tích công chúa Tiên Dung ra đời mang mầu sắc thần thoại như sau:

Đến đời Hùng Vương thứ ba, Vua lấy một người họ Nguyễn làm Hoàng Phi. Hồi ấy trời giáng xuống một con rồng thở hơi ra kết thành những hạt châu quý báu. Bà hoàng phi họ Nguyễn nhân đó cảm động mà mang thai. Đến giờ Ngọ ngày mười bốn tháng ba sinh hạ một cô gái. Trước và sau lúc sinh, trên không có đám mây vàng xuất hiện, trong nhà có ánh hào quang sáng như bó đuốc. Hiện tượng này khiến ai ai cũng cho là điều lạ, và biết là cô bé này hẳn là bậc phi thường.

Cũng trong thần tích trên có chép Chử Đồng Tử ra đời cũng trong cảnh thần thoại như sau:

Ở xã Chử Xá, huyện Đông Yên có gia đình họ Chử, chồng tên Vân, vợ họ Nguyễn tên Nhân, gia thế vốn thanh bần, ông là người hiền lành chất phác, làm ăn hàng ngày nhiều vất vả, tuy nhiên vẫn sẵn lòng cứu giúp người theo hoàn cảnh riêng của mình. Từ khi vợ chồng họ Chử kết duyên đến năm sáu năm sau vẫn chưa có con. Một hôm Nguyễn Thị ra tắm ở bến sông, đang trưa mà trời đất bỗng tối mù mịt. Thuồng luồng cá ba ba nổi lên bơi diễu chung quanh, bà sợ hãi chạy về nhà, trong bụng ngâm ngẩm đau, do đó mà mang thai. Trong chín tháng mang thai Nguyễn Thị chỉ thích ăn hoa quả. Đến ngày sinh, trời đất bỗng tối sầm, mưa gió nổi lên dữ dội. Bà Nguyễn Thị sinh con trai. Con vừa lọt lòng thì bà vội quá cố. Chử công, làm lễ an táng vợ, và ở vậy nuôi con. Năm lên sáu tuổi, cậu nhõ tự xưng là Đồng Tử. Năm chàng 17 tuổi thì chằng may có một vụ hoả tai thiêu sạch nhà cửa Chử ông.

Thần tích trên cho thấy là cả công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, tuy có cha, nhưng cùng ra đời bằng lối cách không hoài thai, quen thuộc trong truyện thần thoại Phật Mẫu Man Nương cùng ngoại sử chép sự tích Lý Bôn, vị vua dựng lên triều nhà Lý.

Xã Hòa Nhu, nay thuộc đất huyện Mỹ Văn tỉnh Hưng Yên, chép sự tích Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung hiển linh giúp vua Lê Lợi như sau:

Thủa đó Bình Định Vương Lê Lợi, đem quân đi đánh giặc Minh, qua địa phận xã Tràng Võ, huyện Tế Giang, phủ Thuận Thành, bỗng có cơn bão táp từ phía Nam kéo đến, trời đất mù mịt, sấm sét ầm ầm, giữa trưa mà tối sầm như nửa đêm, làm trở ngại cuộc tiến quân, khiến Vương phải cho dừng quân tại xứ Đường La, thuộc địa phận bản xã [tức xã Hòa Nhu]. Đại thần cho là có quỷ thần ngăn cản. Vương bèn vời phụ lão đến hỏi. Phụ lão tâu: Ở đây thờ vị tiên họ Chử và công chúa Tiên Dung, xưa nay vốn linh thiêng. Vương hỏi lại: Anh linh thật ư? Bèn sai quan làm lễ. Vương khấn rằng: Quân ta dến duổi quân Minh chiếm nước, chưa biết thắng bại ra sao. Ta đem quân qua đất xã này, đáng lẽ thần phải hiển linh giúp ta giệt giặc, sao lại làm mưa gió cản bước quân đi. Như vậy thực là không nên. Nếu thần quả có anh linh xin phù hộ cho việc quân ta được thuận lợi… Nửa đêm, Vương nằm mộng thấy một người nam, hai người nữ từ trên trời giáng xuống, tiến tới trước mặt Vương , nói rằng: Ta giáng trần rồi đắc đạo phi thăng lên cõi tiên. Nay nghe Vương thân chinh đánh giặc, ta xuống đây âm phò cho Vương… Vương chợt nghe tiếng sấm tỉnh dậy, biết là thần quả rất anh linh, và Vương cầu sao đã được vậy, liền sai các vị bô lão bản xã, đến đền làm lễ cầu đảo. Sau đó Vương chỉ huy ba quân giáp chiến, trong lúc giao tranh ác liệt, trời bỗng lại nổi mưa to gió lớn, khiến quân giặc hoảng sợ mà vỡ trận. Nghĩa quân giết được tướng giặc tại trận. Vương cho sai quan làm lễ tạ và ban tiền cho dân làng tu sửa đu: ?Ở

Tiếp tới là thần thoại về Phù Đổng Thiên Vương, chép trong Lĩnh Nam Chích Quái dưới đầu đề:

Truyện Đổng Thiên Vương

Họ Hùng Vương, truyền tới đời thứ sáu, cậy nước giầu dân mạnh, chểnh mảng việc triều cận phương Bắc. Vua nhà Ân mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần, hỏi kế công thủ. Có nguời phương sĩ tâu rằng chẳng gì bằng cầu Long Vương giúp bằng cách âm phù. Vua nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc tiền lụa, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày.

Trời bỗng nồi mưa to gió lớn, chợt thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Có người trông thấy thế biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống, không nói năng, vua hỏi:

– Nghe tin quân Bắc sắp sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin chỉ bảo.

Cụ già ngồi im một lúc, đòi mang quẻ ra bói, bảo vua rằng:

– Ba năm nữa giặc sẽ sang, phải sẵn sàng khí giới, tinh luyện binh sĩ mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng mãi mãi. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy.

Dứt lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lới thần dặn, sai sứ giả đi khắp nơi nơi cầu hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một người con trai vào ngày mồng 7 tháng giêng, ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ, nghe tin sứ giả tới, nói rằng:

– Sinh được thằng con trai này, chỉ biết ăn không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công bú mớm.

Đứa con nghe mẹ nói, đột nhiên bảo:

– Mẹ gọi sứ giả vào đây

Người mẹ rắt lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc mời sứ giả tới. Sứ giả hỏi:
Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?

Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng:

– Mau về tâu vua rèn cho ta một con ngựa sắt, cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bẩy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cỡi ngựa, đội nón ra đánh, giặc tất kinh bại, vua chẳng còn phải lo gì nữa.

Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa sợ vừa mừng nói rằng:

– Ta không còn lo nữa.

Quần thần tâu:

– Một người thì làm sao đánh bại giặc?

Vua nổi giận nói:

– Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa! Các ngươi lo tìm đủ sắt luyện thành ngựa, kiếm, roi nón.

Sứ giả mang đù các thứ đó tới, người mẹ sợ hãi cho rằng tai họa đã đến. Đứa con cả cười mà rằng:

– Me hãy đưa nhiều cơm rượu cho con ăn, việc đáng giặc xin mẹ chớ lo.

Ngưới con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn phí rất nhiều, cha mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh trái rất nhiều mà người con vẫn không no bụng, vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặêc vẫn chưa đủ kín thân, khiến phải lấy hoa lau buộc thêm vào. Kíp khi quân nhà Ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, người con duỗi chân đứng dậy, cao hơn mười thước, ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn:

– Ta là Thiên Tướng đây!

Rồi đội nón nhẩy lên mình ngựa sắt. Ngựa chồm lên hí dài một tiếng mà phi nhu bay, nháy mắt đã tới trước quân vua, dẫn đầu quan quân tiến vào đồn giặc.

Quân giặc bỏ chạy, còn lại tên nào tên nấy đều la bái Thiên Tướng và xin hàng phục. Ân Vương chết trong trận. Đi tới Sóc Sơn, huyện Kim Hoa, Thiên Tướng cởi áo cỡi ngựa bay thẳng lên trời. Hôm dó nhằm ngày mùng chín tháng tư, vết tích còn trên đỉnh núi đá.

Vua Hùng nhớ ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, sai lập miếu thờ tại nhà cũ trong làng, lại ban ruộng đất để đời đời hương khói thờ phụng.

Vua Lê Hoàn phá quân Tống (981) lập ra nhà Tiền Lê phong:

Sóc Sơn Đổng Thiên Vương Đà Giang Hiển Thánh
Phù Thánh Giá Đại Vương, Thượng Đẳng Sơn Thần.

Gần một trăm năm sau (1077), Vua Lý Nhân Tông thắng quân nhà Tống lần thứ hai, phong thêm hai chữ Xung Thiên, lập đền thờ lại sai tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép truyện Phù Đổng Thiên Vương trong kỷ Hồng Bàng Thị, vắn tắt như sau:

Đời Hùng Vương thứ sáu, hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh, có ông nhà giầu, sinh một con trai, khi 3 tuổi, ăn uống béo lớn, nhưng không biết nói cười. Vừa gặp khi có giặc lấn, vua sai sứ đi tìm người có tài đánh lui giặc. Ngày hôm ấy, đứa bé bỗng nói được, bảo mẹ mời thiên sứ vào mà nói rắng: “Xin cho một thanh gươm một con ngựa thì vua không còn lo gì nữa” Vua sai đem cho gươm và ngựa, đứa bé lập tức phi ngựa vung gươm mà đi, quan quân theo sau, phá giặc ở chân núi Vũ Ninh, quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, bị chết rất nhiều, dư chúng đều lạy rạp xuống, gọi là thiên tướng, đều đầu hàng. Đứa bé phi ngựa bay lên trời biến mất. Vua sai sửa sang khu vườn sau nhà của đứa bé để lập miếu thờ. Nay miếu còn di tích bên cạnh chùa Kiến Sơ làng Phủ Đi

Hình ảnh Phù Đổng Thiên Vương trong tập tục đại chúng kéo dài truyện thần thoại trên đây. Làng Đông Bộ Đầu, huyện Thường Tín, Hà Tây thờø Phù Đổng Thiên Vương làm thần thành hoàng. Dân làng truyền tụng công lao Phù Đổng Thiên Vương cứu dân như sau:

Trên đường bay về trời, Thánh Gióng chợt như nghe thấy tiếng reo hò ầm ầm dưới đất. Thánh Gióng cúi nhìn xuống thì nhận ra đó là tiếng kêu la của dân chúng về hai con thuồng luồng đang hoành hành trên mặt nước sông Nhị. Trong đó có một người đang bị thuồng luồng cuốn, lúc nổi lúc chìm, Thánh Gióng nhận ra chính là mẹ mình. Sót mẹ thương dân, căm giận loài thủy quái, Thánh Gióng quay lại, lao xuống nước, vớt dược mẹ, diệt đôi thuồng luồng cứu dân.

Tiếp nữa là sự tích Thần Tản Viên, chép trong sách Lĩnh Nam Chích Quái như sau:

Truyện Núi Tản Viên

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành Thăng Long nước Nam Việt. núi cao một vạn hai ngàn ba trăm trượng, chu vi chín vạn tám nghìn sáu trăm trượng. Ba núi xếp hàng, đỉnh tròn như cái tán cho nên có tên ấy. Theo sách Ai Châu Tự của Đường tăng thì đại vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính. Thường thưòng vào những ngày quang đãng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi. Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn Thần hiển hiện. […]

Xưa kia Đại Vương thấy phong cảnh núi Tản Viên đẹp đẽ, bèn làm một con đường từ bến Bạch Phiên, đi lên phía Nam núi Tản Viên, qua động An Vệ. Ở các nguồn lạch suối đều dựng điện để nghỉ ngơi. Rồi lại đi qua ria núi đến chỏm núi có mây che thì định cư tại đó. Đôi lúc rong chơi trên sông Tiểu Hoàng Giang xem đánh cá. Phàm đi qua làng xóm đều cho dựng điện để nghỉ chân. Về sau người dân theo dấu vết các điện đó mà lập đền thờ.

Theo truyện cũ ở sách Giao Châu Ký của Lô Công, tương truyền rằng đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu. Thời vua Chu Noãn Vương, vua Hùng Vương thứ XVIII đến ở đất Việt Trì, Châu Phong, lấy Quốc hiệu là Văn Lang. Vua có ngưòi con gái tên là Mỵ Nương có sắc đẹp lộng lẫy. Thục Vương Phán cầu hôn, nhà vua không đẹp ý, còn muốn kén rể hiền.

Ít lâu sau, bỗng thấy hai người xưng là Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn. Hùng Vương truyền tỷ thí pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi núi lở, ra vào trong núi đá như không có gì trờ ngại. Thủy Tinh phun nước lên trời thành mây thành mưa. Vua nói:

– Hai vị đều giỏi phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước ta khắc gả cho

Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang ngọc quý, vàng bạc sơn cầm dã thú… các lể vật đến tiến vua, vua y cho. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mỵ Nương, cả giận đem loài thủy tộc định đánh cưóp lại. Sơn Tinh bèn sai lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một giải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào Đà Giang để đánh tậo hậu núi Tản Viên. băng qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành một cái vũng lớn để mở lối cho quân thủy tộc. Lại làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Dân ở trên núi thấy thế dựng một hàng rào đón đỡ, đánh trống gõ cối reo hò cứu viện. Thấy củi cành trôi ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành xác ba ba thuồng luồng, trôi tắc cả khúc sông.

Về sau, hàng năm, vào khoảng tháng bẩy tháng tám, vẫn thường như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, thiệt hại lúa má mùa màng. Người đời tương truyền rằng đó là Thủy Tinh tái dấu Sơn Tinh để trả hận xưa.

Sơn Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh. Đó là vị đệ nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.

Sách Việt Điện U Linh chép truyện Sơn Tinh theo sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công, có nhiều chi tiết khác với bản chép trong Lĩnh Nam Chích Quái. Truyện mượn tước phong cho thần Tản Viên làm tựa đề:

Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Ứng Vương

Xét sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công thì Vuơng là Sơn Tinh cùng với Thủy Tinh kết bạn ở ẩn trong động Gia Ninh, thuộc về Phong châu. Khi ấy, vua Hùng Vưong có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua nước Thục sai sứ sang cầu hôn, Hùng Vương định gả. Có quan đại thần là Lạc Hầu tâu rằng:

– Không nên! Họ định mưộn cớ cầu hôn để nhòm ngó nước ta đó!

Hùng Vương e không gả sẽ gây hiềm khích. Lạc Hầu lại tâu:

– Đại vương trị một nước đất rộng dân đông, nay kén lấy một người có tài cao thuật lạ, cho là rể, rồi đặt binh mai phục để đợi, thì còn chi lo!

Hùng vương nghe lời, không gả con gái cho vua Thục, rồi cho đi khắp nơi trong nước kén người có thuật lạ. Vương và Thủy Tinh cùng ra ứng tuyển. Hùng Vương sai thử phép thuật hai người. Vương thì trông suốt qua được ngọc đá, Thủy Tinh thì xuống nước vào lửa đều được cả. Thấy hai người cùng có thuật tinh thông, vua lấy làm mừng, bảo Lạc Hầu rằng:

– Hai người cùng đáng làm rể, nhưng ta chỉ có một công chúa, biết gả cho ai?

Lạc Hầu tâu:

– Xin vua hẹn: ai dẫn lễ cưới tớùi trước thì gả cho người ấy.

Vua nghe theo, hẹn hai người về sửa lễ. Vương vềâ, ngay đêm đò sửa soạn đủ càc thứ vàng bạc, ngọc quí, sừng tê, ngà voi cùng các giống chim muông, mỗi thứ hàng trăm, sớm hôm sau đem đến dâng vua. Hùng Vương mừng, gả luôn Mỵ Nương cho Vương, Vương đón về nghỉ tại Lôi Sơn. Đến buổi chiều, Thủy Tinh cũng sắm đủ thứ trân châu, đồi mổi, san hô, và các giống cá lạ, mỗi thứ cũng đến hàng trăm. Nhưng đến nơi thì Sơn Tinh đã đón Mỵ Nương về Lôi Sơn rồi. Thủy Tinh nổi giận sua quân đuổi theo, định phá tan Lôi Sơn. Nhưng bấy giờ Vương đã dời lên đỉnh núi Tản. Thủy Tinh không làm gì nổi. Từ đó căm thù mãi, hàng năm đến mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên. Dân ờ vùng ấy cùng nhau kết gỗ thành hàng rào để làm viện trợ, giữ chân núi. Thủy Tinh không sao phạm tới được. Những dấu vết của Vương rất nhiều không thế nào kể hết.

Trùng Hưng năm thứ nhất, sắc phong Hựu Thánh Vương. Năm thứ tư, gia phong thêm hai chữ Khuông Quốc, rôi lại thêm hai chữ Hiển Ứng.

Đền chính thờ Tản Viên ở huyện Bất Bạt, Sơn Tây, nay là Hà Tây.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép truyện thần Tản Viên, trong Kỷ Hồng Bàng Thị, với đôi chút khác biệt như sau:

Cuối đời Hùng Vương, vua có con gái là Mỵ Nương, người xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng Hầu can rằng:

– Họ muốn dòm nưóc ta, mượn việc hôn nhân làm cớ thôi.

Thục Vương vì chuyện ấy để lòng căm giận.
Vua muốn tìm người đáng giá, bảo bề tôi rằng:

– Đứa bé này là giống tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể.

Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lậy ở dưới sân rồng để cầu hôn. Vua lấy làm lạ hỏi. Đáp rằng một người là Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi nước, nghe nhà vua có thánh nữ, đánh bạo tới xin mệnh lệnh. Vua nói:

– Ta có một con gái, có thể gả cho cả hai vị thế nào được!

Mới hẹn đến ngày mai vị nào đem đủ sính lễ đến trước thì gả cho. Hai người nhận lời rồi lậy tạ ra về.

Ngày mai Sơn Tinh đem châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng, đủ các thứ đến dâng. Vua y lời gà công chúa cho Sơn Tinh. Sơn Tinh đón vợ về núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, tức giận kéo mây làm mưa, dâng nước lên tràn ngập, đem loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm để chặn. Thủy Tinh theo dòng sông khác từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai, rồi dọc theo bờ lên cửa Hát, ra sông lớn mà rẽ vào sông Đà để đánh núi Tản Viên. Chỗ nọ chỗ kia đào chằm lằm vực, chứa nước để mưu đánh úp. Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi người Man đan tre làm rào để chắn nước, lấy nỏø bắn xuống, các loài thủy tộc trúng tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc không sao xâm phạm vào núi Tản Viên được. […]

Mỵ Nương lấy Sơn Tinh, Thục Vương căm giận dặn con cháu phải kiêm tính lấy nước Văn Lang. Đến cháu là Thục Phán dùng qủøy lược mới thắng được nước ấy.

Tục truyền rằng từ đấy về sau, Thủy Tinh hàng năm vẫn dâng nuớc lên cao tính kế trả thù Sơn Tinh.

Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam chép thánh tích Thần Tản Viên với nhiều chi tiết. Theo Tản Viên Sơn Ngọc Phả thì:

Vào cuối thời Hùng Vương, có vợ chồng một vị trưởng lão ở Sơn Tây, cả đời sống hiền lành nhân đức. Một lần nhìn thấy rồng hiện xuống hút nước lão bà bỗng thấy trong người cảm động, mang thai và 14 tháng sau sinh con trai, đặt tên là Nguyễn Tuấn hay còn gọi là Nguyễn Tùng. Năm Nguyễn Tuấn lên sáu tuổi thì Nguyễn trưởng lảo qua đời. Hai mẹ con tới nương nhờ bà Ma Thị Cao, con gái thần núi Tản Viên. Bà Cao nhận Nguyễn Tuấn làn con nuôi. Thủa niên thiếu, Tuấn lên núi chặt cây gặp thần Thái Bạch, và được thần cho một cây gậy và dậy cho một câu thần chú để cứu đời. Sau đó, Tuấn lại cứu sống một con rắn, nguyên là con Long Vương, bị trẻ chăn trâu đuổi đánh,.Vi thế Tuấn được Long Vương cho một cuốn thiên thư, xem có thể hiểu thấu mọi việc trên trới dưới đất. Khi bà Cao sắp qua đới, bà phong cho Nguyễn Tuấn cai quản muôn vật trên núi Tản Viên, người đời gọi là Sơn Tinh… Gặp khi vua Hùng Duệ Vương kén chồng cho công chúa Mỵ Nương, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh và được phong làm phò mã. […]

Về sau, vua Thục đem quân sang đánh Hùng Duệ Vương. Vua sai Sơn Tinh đi dẹp giặc, nhờ có gậy thần, Sơn Tinh phá được quân Thục. Nhân đó Sơn Tinh được vua Hùng trao quyền trị nước. Sơn Tinh chỉ nhận chức trong ít ngày rồi xin vua cho đi chu du khắp nơi trong nước. Về sau, vua Thục sang cầu hòa. Sơn Tinh nghĩ là vua Thục với vua Hùng cùng một dòng dõi, nên khuyên vua Hùng truyền ngôi cho vua Thục. Rồi đó vợ chồng Tản Viên cùng Hùng Duệ Vương cỡi mây bay về trời. Thục Vương nhớ ơn ấy bèn cho lập đền thờ. Đời sau người đời gọi Sơn Tinh là vị tổ của bách thần nước ta.

Qua sự tích Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương, Thần Tản Viên và công chúa Liễu Hạnh, người đọc thấy hình ảnh bất tử trong sự tích Chử Đồng TửÛ, Phù Đổng Thiên Vương cùng thần núi Tản Viên tức Sơn Tinh và công chúa Liễu Hạnh lần lượt là hình ảnh bốn vị thần linh này cùng bay lên trời. Hình ảnh bay lên trời này hẳn là một hình ảnh quan trọng, vì chính vì hình ảnh này mà vua Lý Nhân Tông đã gia phong thêm hai chữ Xung Thiên cho Phù Đổng Thiên Vương.

Trong tiếng Việt Nam, đại chúng có câu:

Tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ Mẹ

Cha là tiếng đại chúng chỉ Đức Trần Hưng Đạo, giỗ nhằm ngày 20 tháng tám âm lịch, tín chúng đông đảo trẩy hội tại đền Kiếp Bạc, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, ngày đó cũng là ngày hội lớn tại đền Bảo Lộc, ở làng Tức Mạc, tỉnh Nam Định, quê tổ của dòng họ Trần. Mẹ là Đức Thánh Mẫu Phủ Giầy, giỗ ngày 3 thàng 3 âm lịch.

Đức Trần Hưng Đạo, tên là Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh Vương Trần Liễu tức anh vua Trần Thái Tôn. Dưới triều vua Trần Nhân Tôn, quân nhà Nguyên hai lần (1284-1285) và (1287-1288) sang xâm chiếm nước Đại Việt ta, ông đươc vua cử làm Tiết Chế thống lĩnh chư quân, dẹp tan quân Mông Cổ, và được phong là Hưng Đạo Đại Vương. Đức Thánh Trần Hưng Đạo, không những là một vị tướng đại tài, còn là một nhà quân sự xuất chúng sáng tác cuốn Binh Thư Yếu Lược, tóm tắt những điều cốt yếu về các sách dụng binh, ngoài ra ngài còn soạn bài Hịch Tướng Sĩ, một áng hùng văn không có áng hùng văn nào sánh kịp trong nền văn học nước nhà. Đằng khác, trong tín ngưỡng đại chúng, Sách Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên, phần phụ lục do Ngô Giáp Đậu trùng bổ, chép truyện về Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nguyên văn chữ nho, và Trịnh Đình Rư dịch như sau:

Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương

Vương họ Trần, tên là Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Liễu, được phong là Hưng Đạo Đại Vương.

An Sinh Vương với vua Trần Thái Tông có hiềm khích, khi sắp mất, cầm tay vương dặên rằng:

– Nếu con không vì cha mà lấy thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt.

Vương suy nghĩ kỹ, hành động rất cẩn thận. Trong thời Trùng Hưng(1285-1292), đánh phá quân Nguyên hai lần, dựng nên vũ công bậc nhất thời ấy. Khi mất vua sai lập đền thờ.

Vềâ sau hễ có giặêc đến, rước kiếm trong đền ra trận tất đại thắng. Đền thờ Vương trị bệnh Phạm Nhan rất thần hiệu. Tục truyền: Nhan họ

Nguyễn, tự là Bá Linh, cha hắn là khách buôn ở Quảng Đông, mẹ là người làng An Bài nước ta. Nhan thi đậu tiến sĩ đời Nguyên, biết thuật
phù thủy, thường lẻn vào hậu cung, bị bắt, sắp đem giết. Ngay khi đó, gặp lúc nhà Nguyên cất quân sang đánh nước ta, Nhan xin với vua Nguyên làm hướng đạo để chuộc tội. Vua Nguyên thuận cho.

Trong trận Bạch Đằng, Nhan bị Hưng Đạo Vương bắt sống, đem về hành hình tại làng mẹ, đầu vứt xuống sông.

Có hai người đánh cá vớt được, quằng đi mấy lần, đầu lại vào lưới.Thấy lạ, người đánh cá mới khấn rằng: Hồn có thiêng giúp bọn tôi đuợc nhiều cá, thờ sẽ mai táng cho. Hôm ấy quả được cá rất nhiều. Bèn mang đầu lên bờ mai táng. Hồn rất thiêng, thường hiện lên cùng bọn đánh cá chơi đùa, lâu ngày thành quen, mọi người lập đ mới khấn

Trước khi Nhan bị hành hình có hỏi Đại Vương rằng:

– Sau khi tôi chết Đại Vương cho ăn gì?

Đại Vương nổi giận nói:

– Cho mi ăn sản huyết đàn bà.

Sau đó hồn Nhan đi khắp trong nước, hễ thấy đàn bà đến kỳ thai sản thì đi theo, làm cho người ấy ốm đau liên miên không thuốc nào chữa khỏi. Nhưng hễ người nhà lên lễ đền Đại Vương, xin mảnh chiếu cũ trong đền đem về cho bệnh nhân nằm và lấy tàn hương ở đền, đem hòa nước cho uống thì liền khỏi bệnh. Có người vừa đem mảnh chiếu về đến nhà thì bệnh nhân đã khỏi bệnh. Sự anh linh ứng nghiệm kỳ lạ phần lớn là thế.

Bản văn trên đây là một bản văn ghi chép sự tích Hưng Đạo Vương Trần QuốcTuấn đăïc biệt nhất. Bản văn không nói tới việc Trần Quốc Tuấn thống lĩnh toàn quân hai lần đánh đuổi quân Mông Cổ nhà Nguyên, mà chỉ nhắc tới việc Trần Quốc Tuấn suy nghĩ kỹ không tưởng tới việc báo thù cho cha mà luôn luôn hành động cẩn thận. Tìm hiểu bốn chữ này không cách nào hơn là theo dõi hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Trong Quyển V, Kỷ nhà Trần Thái Tôn Hoàng Đế, sử cũ ghi lại hình ảnh Trần Quốc Tuấn thời trẻ như sau:

Năm Tân Hợi (1251) , vua [Trần Thái Tôn] đem trưởng công chúa Thiên Thành gả cho Trung Thân Vương (không rõ tên). Con trai An Sinh Vương là Quốc Tuấn lập tâm cướp công chúa. Ngày 15 tháng ấy vua mở đại hội bẩy ngày đêm, bày các đồ làm lễ kết tóc cùng các trò chơi, cho người trong triều ngoài nội chơi xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước cho công chúa Thiên Thành ở nhà của Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha sinh ra Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành mà không làm sao được, nhân ban đêm lẻn vào phòng công chúa. Công chúa Thụy Bà (chị ruột vua Trần Thái Tôn, cô ruột của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cấp cáo. Người coi cửa vội vào tâu , vua hỏi chuyện gì. Thụy Bà trả lời: Không ngờ Quốc Tuấn điên cuồng càn giỡ, đang đêm vào chỗ Thiên Thành ở, Nhân Đạo Vương đã bắt giữ rồi, sợ bị giết, xin bệ hạ thương cho mà sai người đến cứu. Vua vội vã sai người tới nhà Nhân Đạo Vương. Đến nơi thấy im lặng, bèn tới chỗ công chúa Thiên Thành ở thì thấy Quốc Tuấn ở đấy. Nhân Đạo Vương bấy giờ mới biết truyện. Hôm sau Thụy Bà dâng mười mâm vàng sống tâu rằng: “Vì vội vàng không sắm đủ lễ vật.” Vua bất đắc dĩ đem công chúa Thiên Thành gả cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảng ruộng Ứng Thiên để trả của cho Trung Thành Vươ trả

Nhưng 34 năm sau, nhằm năm ất dậu (1285) nhân kỳ quân Nguyên đánh vào bến Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân nhà Trần chạy tan tác. Sử cũ ghi lại một hình ảnh mô tả hành động cẩn thận của Trần Quốc Tuấn như sau:

Thế quân giặc bức bách, vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa quân giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Quốc Tuấn vốn tự phụ kỳ tài, lại có mối hiềm của An Sinh Vương, mọi người có ý ngờ vực. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm cái gậy, đầu có sắt nhọn, mọi người gườm mắt nhìn, Quốc Tuấn bèn vứt cái sắt nhọn đi, chì cầm gậy thôi.

Rồi chín năm sau, năm giáp ngọ (1294) dưới triều vua Trần Anh Tôn, nhân dịp Chiêu Minh Vương chết, sử cũ còn ghi thêm một hình ảnh khác biểu lộ hành động cẩn thận của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như sau:

Trước kia, vua Trần Thánh Tôn thân đi đánh giặc, Quang Khải theo hầu, ngôi Từ Đồ bỏ chống. vừa gặêp sứ phương Bắc sang, thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn bảo rằng: Thượng Tướng đng Quốc Tuấn bảo rằng: ?Thượng cho khanh làm Tư Đồ để tiếp ứng sứ phương Bắc. Quốc Tuấn trả lời: Việc tiếp ứng sứ phương Bắc, thần không dám từ chối, còn việc cho thần làm Tư Đồ thì thần không dám vâng chiếu. Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu, nay thượng hoàng phong cho thần chức ấy, thì tình nghĩa trên dưới sợ có chỗ chưa ổn, không được thỏa lòng quan gia và Bắc?. Quốc

Đối chiếu văn giáng bút của Thánh Mẫu Phủ Giầy với những hình ảnh đức Thánh Trần Hưng Đạo người đọc sử cổ không khỏi không nhận ra những hình ảnh đức Thánh Trần ghi chép trong sử cổ chẳng khác gì những tấm gương sáng biểu thị lời khuyến thiện trong văn giáng bút khiến người theo đạo Thánh theo đó tu thân sửa tính, buông danh bỏ lợi để cuộc sống thanh nhàn an lạc.

Đằng khác, bản văn nhấn mạnh về sự linh ứng trong việc đến lễ bái xin tàn hương nước thải chữa bệnh tại đền Kiếp Bạc, như vậy rõ là, theo tập tục của đại chúng, Thánh Mẫu Phủ Giầy cũng ban phép lạ cải tử hoàn sinh, tiêu trừ phiền não tựa như đức Thánh Trần Hưng Đạo cũng như Đạo Tổ Chử Đồng Tử vàTây Điện Thánh Mẫu.

Sự việc đại chúng còn tôn vinh công chúa Liễu Hạnh là Thánh Mẫu, hay vắn tắt là Mẹ ngang hàng với Đức Thánh Trần, một vị tướng lãnh hiểàn hách trong lịch sử dân tộc, mà người người gọi bằng Cha, khiến người Việt Nam không thể không nhận thấy cả nước là một nhà, cùng một cha một mẹ. Ngược lại tục gọi công chúa Liễu Hạnh là mẹ và đức Trần Hưng Đạo là cha dường như biểu thị lòng đại chúng sùng kính hai vị thánh này như lòng người người thờ kính cha mẹ ruột của mình.

Sự tích Công Chúa Liễu Hạnh, trong dòng văn học đại chúng, còn là đề tài của nhiều bài hát, kèm đàn họa, ca tụng thần thánh trong việc cúng bái hay hầu bóng, quen gọi là những bài chầu văn. Bài chầu văn ca tụng Công Chúa Liễu Hạnh phổ thông nhất là bài Địa Tiên Thánh Mẫu Văn gồm 152 câu. Bài chầu văn này không theo sát với sự tích Công Chúa Liễu Hạnh trong truyện truyền khẩu.

Muời câu mở đầu bài chầu văn:

1Bóng gương loan mẫu đơn một đoá
Gió lay mành hương xạ thoảng đưa
Có chầu nguyệt điện tiên xưa
Lánh miền cõi tục phận ưa Nam Thành
5Kiếp giáng sinh vào nhà Lê thị
Cải họ trần dấu khí thiên hương
Vốn sinh vẻ có phi phương
Giá danh đòi một hoa vương khôn bì
Ngụ thai quê phủ Giầy Thiên Bản
10Phủ Nghĩa Hưng là quán Sơn Nam

giới thiệu gia đình cha đẻ và cha nuôi Công Chúa Liễu Hạnh, nhưng không nhắc tới giấc mơ lên thiên đình của Lê Thái Công. Tình tiết mối duyên trần giữa công chúa Liễu Hạnh và Đào Lang, và sự thương xót công chúa khi về chầu Ngọc Hoàng lầân thứ nhất, rồi lại giáng lâm xuống trần về thăm cha mẹ và Đào Lang, thu gọn trong 14 câu: từ câu 11 tới câu 24. Từ câu 25 tới câu 41 là đoạn mô tả mô tả cuộc vân du của Công Chúa Liễu Hạnh khắp vùng Đồi Ngang Núi Cát, ban phúc cho người lành trừng phạt kẻ ác. Đoạn tiếp, từ câu 42 tớùi câu 54, kể lại cuộc tái hợp tại trần gian với Đào Lang tại vùng Nghệ An. Điểm đáng chú ý là tác giả bài chầu văn lấy việc Công Chúa Liễu Hạnh bỏ chồng bỏ con còn nhỏ dại đi vân du làm hình ảnh cho chữ vô thường trong cõi trần gian:

Chữ sắc không xem thường mới biết
Lấy của gì là kiếp là chăng

Mười câu tiếp, từ câu 55 tới câu 65, kể lại tình tiết công chúa Liễu Hạnh ra ân ra uy khiến dân vùng Đồi Ngang Phố Cát lập đền thờ và tiếng đồn vềâ công chúa ra tới kinh đô. Từ câu 66 đến câu 79, là đoạn tả cuộc hành quân cả quân vua lẫn âm binh tới đốt phá đền thờ công chúa Liễu Hạnh. Tiếp tới một đoạn dài 40 câu kể lại truyện Ngọc Hoàng phạt dân bất kính với công chúa và gây ra dịch tễ khiến dân chúng phải xin triều đình cho tái lập đền thờ và phong thần cho công chúa, từ đó dân gian mới thoát tai ách. 32 câu tiếp bài chầu văn ca tụng hình ảnh công chúa nhập vào người hầu bóng Thánh Mẫu.

Trong số sách chữ nôm trữ tại thư viện Khoa Học Xã Hội, có cuốn Đại Nam Quốc Âm Ca Khúc, ghi rõ là Hoàng Triều Thượng Thư Nguyễn Công Trứ soạn, mang mã hiệu AB146, có tập Liễu HaÏnh Công Chúa Diễn Âm. Tập thơ này gồm 202 câu, nhưng tình tiết trong tập diễn âm này, về sự tích công chúa Liễu Hạnh, có nhiều điểm tương tự như bản chầu văn xét trên đây. Cả hai cùng không nói tới hai điểm thưòng được nhắc nhở tới trong các truyện cổ tích truyền miệng như mối tương quan về triết tự và làm thơ liên cú giữa công chúa Liễu Hạnh cùng Phùng Khắc Khoan và việc công chúa Liễu Hạnh quy y theo bồ tát Quán Thế Âm. Nên như lời Vũ Ngọc Khánh và Phạm Văn Ty viết trong cuốn Vân Cát Thần Nữ, nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1990, áng thơ này khó có thể coi là một tác phẩm của Nguyễn Công Trứ. Người đọc có thể nghĩ là áng thơ Liễu Hạnh Công Chúa Diễn Âm có thể cũng là một bài chầu văn chép thiếu đoạn cuối, đoạn này thường là lời tán tụng người hầu bóng Thánh Mẫu. Trong cùng cuốn sách nói trên Vũ Ngọc Khánh và Phạm Văn Ty còn cho biết có tập Vân Cát Thần Nữ Cổ Lục Diễn Âm, gồm 732 câu song thất lục bát viết về công chúa Liễu Hạnh. Nghiên cứu tập diễn âm này là một vấn đề bỏ ngỏ chờ giới chuyên môn.

Không những chỉ làm đầu đề cho những tác phẩm đại chúng, cũng như không những công chúa Liễu Hạnh đã được đại chúng tôn vinh ngang hàng với các vị thần linh bất tử có công mở nước, ngang hàng với các vị thánh có công giữ nưóc, lấy làm thần tượng tôn thờ để cầu xin phù hộ độ trì, mà công chúa Liễu Hạnh còn là nguồn cảm hứng của những văn nhân vốn được đại chúng ưa chuộng.

Một trong những văn nhân đó là Hồng Hà Phu Nhân, khuê danh Đoàn Thị Điểm, viết Vân Cát Thần Nữ Lục, trong tập Truyền Kỳ Tân Phổ. Năm 1914, Đào Thái Hanh viết La Déesse Liễu Hạnh trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế, dựa trên sách của Đoàn Thị Điểm đồng thời tham khảo các sách Thanh Hoá Kỷ Thắng của Vương Duy Trinh, cùng Dã Sử, Đại Nam Nhất Thống Chí và Hoàng Việt Địa Dư. Năm 1944, Nguyễn Văn Huyên, viết sự tích Thánh Mẫu Phủ Giầy, dựa theo cuốn Hội Chân Biên, của Thanh Hòa Tử, xuất bản năm Thiệu Trị thứ 7, 1947. thành cuốn Le Culte des Immortels en Annam, tiếc rằng cuốn Hội Chân Biên này không còn thấy ghi trong thư mục các sách Hán Nôm của trường Viễn Đông Bác Co.ã Gần đây, Olga Dror viết luận văn Đoàn Thị Điểms ‘Story of the Vân Cát Goddess’ as a Story of Emancipation, trên tập san Journal of Southest Asian Studies, vol. 33, #1, tháng hai 2002. Mục đích của Olga Dror là phân tách truyện Vân Cát Thần Nữ của Đoàn Thị Điểm để chứng minh rằng Đoàn Thị Đểm viết truyện này với ước vọng giải phóng phụ nữ. Do đó, mặêc dầu Olga Dror đã xuất sắc phân tách Vân Cát Thần Nữ Tân Truyện cũng không cùng người đọc tìm hiểu trên các mặt truyền kỳ thần thoại cũng như tín ngưỡng bao gồm trong tác phẩm của Đoàn thị Điểm. Dựa theo cuốn Vân Cát Thần Nữ do Vũ Ngọc Khánh chủ biên truyện công chúa Liễu Hạnh tóm lược như sau:

Tại làng Vân Cát, huyện Thiện Bản tỉnh Nam Định, có nhà hằng tâm hằng sản Lê Thái Công, dốc lòng thờ Thượng Đế và chuyên lo làm phúc. Dầu tuổi đã quá bốn mươi, ông mới chỉ có một con còn nhỏ tuổi. Vào năm Thiên HựÏu đời Lê (1557) Thái Bà có tin mừng, nhưng gần tới cữ bỗng mang bệnh, mặc dầu nhiều thầy nhiều thuốc bệnh vẫn một ngày một thêm nặng, bỏ ăn bỏ uống chỉ còn thiết ngửi hương hoa.

Trung thu năm đó, tiết trời trong sáng. Một đêm, có người áo lá mũ rơm tới gọi cổng nhà Lê Thái Công, nói là muốn ra mắt gia chủ chữa bệnh cho Thái Bà. Ngưòi nhà không mở cổng. Người đó lớùn tiếng nói rằng:

– Ta từ cõi âm về đây, thấy gia chủ là người phúc thiện, muốn ra tay trợ giúp, cớ sao xua đuổi ta?

Lê Thái Công, nghe thấy vậy, thân ra mở cồng mời vào. Khách xõa tóc, niệm thần chú, rồi ném chiếc búa ngọc cầm trong tay xuống đất. Tức thời Lê Thái Công ngã xuống ngủ thiếp. Trong mơ, Lê Thái Công thấy như hồn lìa khỏi thân, bổng bay theo ba người dẫn đường. Quanh ông chỉ có ánh sáng bàng bạc như ánh trăng. Chẳng bao lâu bốn người tới một cổng thành vĩ đại. Qua cổng thành, ca bốn người cùng thay đổi áo quần, rối tiếp tục leo lên chín bậc cung trời.

Qua khe cửa sổ, Lê Thái Công nhìn thấy Ngọc
Hoàng ngự trên ngai vàng, hai bên tả hữu có đủ mặt quần thần sắp hàng đứng chầu. Tất cả đều trang phục áo triều giát vàng đính ngọc, kim cương lộng lẫy.Trên mâm ngọc đặt trước ngai rồng có những trái đào mới hái tự Dao Trì, ăn vào sẽ trường sinh, lại có nậm rượu thần tiên uống vào sẽ bất tử. Theo tiếng nhạc Quân Thiều, một đoàn tiên nữ uyển chuyển múa khúc Nghê Thường. Rồi có một tiên cô, xiêm áo một mầu hồng, tay nâng chén ngọc tha thướt bước ra dâng rượu lên Ngọc Hoàng. Bỗng nhiên, chén ngọc rớt khỏi tay tiên vỡ tan trên thềm. Quần thần đều hướng mắt nhìn tiên cô áo hồng. Từ bên trái sân rồng tiến ra một vị thần, qùy trước ngai rồng, lên tiếng đọc một đoạn muời hai chữ trong một cuốn sách vàng. Không khí sân rồng căng thẳng sơ ï hãi. Rồi từ điện trên có lời phán:

– Ngươi thực không muốn ở chốn thượng giới đây nữa .

Tức thời có hai hộ sĩ cùng một bầy tiên nữ quây quanh tiên cô áo hồng, dẫn nàng đi ra khỏi sân rồng bằng lối cửa Bắc. Đi đầu đám quần tiên là một tấm bẳêng viết chữ thiếp vàng, nhưng từ xa Lê Thái Công chỉ đọc đươc hai chữ sắc giáng. Ông hỏi nhỏ người dẫn đường truyện gì vậy? Họ trả lời ông là Quỳnh Nương công chúa, lỡ đánh vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống hạ giới. Liền đó có một vị thần bước ra khỏi điện lớn tiếng dọa nạt:

– Các người là ai? Sao dám đến đây xầm xì?

Ba người dẫn lối thưa:

– Chúng con là bọn ngũ lôi thần binh, đang đợi lệnh ngọc hoàng.

Nói đoạn, họ bèn kéo Lê Thái Công bay về hạ giới. Lê Thái Công bừng tỉnh, trong lòng khấp khởi mừng rỡ vì Thái Bà đã khỏi bệnh. Khắp nhà ngào ngạt hương thơm và lồng lộng ánh sáng như trên thượng giới. Người nhà báo tin Thái Bà hạ sinh con gái. Lê Thái Công sai tìm người khách lạ, nhưng khách đã biệt tăm cùng chiếc búa ngọc. Nhớ lại cảnh chính mắt nhìn thấy trên thượng giới, Lê Thái Công tin chắc là công chúa Quỳnh Nương vừa giáng lâm vào nhà ông, và ông đặt tên con là Giáng Tiên.

Đến tuổi dậy thì, Giáng Tiên mình thắt đáy lưng
ong, da trắng như tuyết, tóc mây óng mưọt, mày ngài tựa liềm trăng, mắt sáng như nước hồ thu. Tóm lại nàng là một tuyệt sắùc giai nhân mà

không có bút thần nào tả trọn vẹn nổi. Nàng còn giỏi thơ phú xướng họa, đàn sáo ngũ cung chẳng món nào chẳng thạo. Tính tới truyện gả chồng cho con, Lê Thái Công cho Giáng Tiên sang làm con nuôi Trần Công, một ông bạn thiết ở cùng làng.

Giáp nhà Trần công, có một vị hưu quan hiếm
muộn không có con trai. Tuy nhiên hai mươi năm về trước, quan ngài nhân dạo chơi trong vưòn thấy một đứa bé trai bỏ rơi dưới gốc đào, bèn bế về nhận làm con nuôi đặt tên là Đào Lang. Khi Giáng Tiên về làm con nuôi Trần Công, thời Đào Lang đã tới tuổi trưởng thành. Vị hưu quan trọng tài sắc cùng đức hạnh Giáng Tiên ngỏ ý cùng Trần Công xin cưới Giang Tiên cho Đào Lang. Lê Thái Công cùng Trần Công hoan hỉ gả Giáng Tiên cho người cùng làng.

Sau lễ cưới, Giáng Tiên cùng chồng sống trong cảnh hòa thuận tương kính. Cha mẹ đôi bên cùng khen đôi trẻ hiếu thảo. Năm sau Giáng Tiên sinh một con trai, rồi thấm thoăùt ba năm trôi qua kể từ ngày nàng về làm vợ Đào Lang. Tới ngày mùng ba tháng ba, không đau không ốm, Giáng Tiên, vừa tròn hai mươi mốt tuổi, bỗng đột ngột từ trần, để trống vắng thương nhớ cho chồng trẻ và cha mẹ già, nhưng riêng nàng thì thời hạn lưu đầy xuống trền thế đã mãn và được phép quay lại thượng giới.

Về tùới thượng giới, nhưng lòng Giáng Tiên còn
vương vấn cõi trần, mặt ủ mày chau, lẹ rơi ướt má. Quần tiên không có cách nào hơn là xin Ngọc Hoàng cho Giáng Tiên tái giáng trần. Ngọc Hoàng ưng thuận và phong nàng làm Liễu Hạnh Công Chúa.Tiên Chúa vâng lệnh, trở lại trần gian đúng hai năm, vào kỳ mãn tang nàng và hiện về nhà cha mẹ ruột.

Từ ngày Giáng tiên về trời, Thái Bà không lúc nào không thương nhớ đứa con vắn số. Xế trưa đó, Thái Bà vào phòng riêng con gái khi xưa, bà thấy cây đàn của Giáng Tiên nay đầy mạng nhện, ống sáo của nàng mốc phủ xanh, mấy bài thơ đắc ý dán trên tường giấy đã vàng mực đã nhòe. Thái Bà mủi lòng thổn thức ngất xỉu. Tiên Chúa hiện ra trên ngưỡng cửa reo lên:

– Mẹ ơi! Xin mẹ đừng quá thương con. Con về với mẹ đây.

Thái Bà xửng xốt:

– Con từ đâu về đây? Con chưa chết thật sao?

Tiên Chúa, chan hoà nước măt, nhìn mẹ nói không ra lời. Lê Thái Công, cùng Trần Công và Đoàn Lang, người anh của Tiên Chúa, nghe tin

mừng mừng tủi tủi vội chạy tới. Tiên Chúa qùy xuống dưới chân cha mẹ và thưa:

– Con thật bất hiếu, để sầu khổ cho cha mẹ, chẳng phải con không muốn sống nơi đây trong sự nuông chiều của cha mẹ, nhưng mà trong cõi trần này ai tránh khỏi số. Xin cha mẹ đừng buồn và xin cha mẹ đừng thương nhớ con nữa.

Nói lời, rồi Tiên Chúa quay sang dặên dò anh phải hết lòng thờ phụng cha mẹ, rồi bước ra cửa. Trần Công, cha nuôi của Tiên Chúa, dơ tay giữ nàng lại và hỏi:

– Từ ngày con từ trần, cả nhà cùng thương nhớ con. Nay con về đây, hãy nán lại, đi đâu mà vội vàng thế?

Tiên Chúa thưa:

– Thưa thầy, con chẳng dám dấu thầy, con là con gái Ngọc Hoàng, vì lầm lỗi, bị giáng xuống trần, nay con mãn hạn lại phải quay về thượng giới. Hôm nay con về thăm thầy và cha mẹ con, vì con không quên được những ngày sống dưới gối cha mẹ con và thầy. Nay con chỉ là hồn không xác, không sao ở lâu trên dương trần này được. Thầy cũng như cha mẹ con đều là những người phúc thiện, con chắc là rồi còn được gặp lại thầy và cha mẹ nơi thượng giới.

Dứt lời Tiên Chúa biến mất.

Về phần Đào Lang, sau khi vợ chết ít lâu, chàng bỏ làng mang con về sống tại kinh đô. Chàng sống tại một nơi hẻo lánh, chẳng còn màng gì đến việc đèn sách học hành. Một đêm mùa thu, dưới mái nhà tranh, trong ánh đèn mờ, chàng ngâm hai câu thơ cám cảnh, ru con ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ của. Đào Lang mở cửa và thấy người vợ vắn số hiện trưóc măt. Chàng nắm áo vợ và nói:

– Từ ngày âm dương đôi ngả, không những ta mất người vợ hiền, mà còn mất cả người cùng ta chia sẻ lẽ sống. Vết thương lòng không phương hàn gắn. Chẳng còn gì ràng buộc ta với cõi đời này nữa. Không có nàng ta sống cũng như chết trong sầu thương.

Tiên Chúa đáp lời

– Xin chàng chớ nhầm. Lòng vả cũng như lòng sung. Chẳng ai chôn vùi tương lai trong cảnh góa bụa. Chàng còn cha mẹ già để thờ phụng, còn đứa con thơ để nuôi dậy cho nên người. Trách nhiệm đó trao cho ai mà chàng tính truyện đi theo thiếp. Chẳng dấu gì chàng, thiếp vốn là công chúa con Ngọc Hoàng, và chàng vốn là Đế Sở Tinh Tào. Sách trời đã định là cuộc xum họp giữa đôi ta đến đây tạm ngưng, hai chục năm nữa chúng mình lại tái hợp xin chàng đừng quá lo.

Tiên Chúa ở lại bên Đào Lang hết đêm đó. Sáng sớm hôm sau, sau khi nhắc nhờ Đào Lang phải giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ già, Tiên Chúa bay bổng biến mất trong mây.

Từ bữa đó, Tiên Chúa vân du khắp chốn, biến hiện khôn lường. Đôi khi hiện làm cô gái đẹp thổi sáo dưới trăng. Có lần hiện làm bà lão ngồi kề bóng tre bên vệ đường. Bất kỳ ai lên tiếng trọc ghẹo đều mang vạ.Vàng lụa do người được Tiên Chúa phù hộ tiến dâng, Tiên Chúa thường mang về kính biếu đỡ đần cha me. Hai năm sau, cha mẹ ruột cùng cha nuôi lần lượt qua đời. Năm sau đến lượt Đào Lang. Chỉ còn người anh Tiên Chúa trông nom đứa con nhỏ của Tiên Chúa.

Từ đó không còn ràng buộc với cõi trần, Tiên Chúa vân du khắp chốn danh lam thắng cảnh khắp nơi trong nước. Tiên Chúa lên vùng Lạng Sơn thăm chùa cổ trong động đá. Tiên Chúa viếng cảnh núi sông rộng, cùng chốn chợ búa đông đúc, như chợ Hoà Nhai, thành Hoành Đình, tháp Báo Thiên, bến Đông Tân Nơi nơi Tiên Chúa đều giáng bút lưu niệm. Một ngày nọ, Tiên Chúa hiện làm chủ quán rượu bên Hồ Tây, trong một buổi xế trưa cùng Phùng Sinh, Ngô Sinh và Lý Sinh làm thơ liên hoàn vịnh cảnh hồ. Sau đó ba nhà thơ quay lại chốn cũ, thì chằng còn thấy quán hôm trước mà chỉ còn nghe tiếng ve than trên cây tiếng ếch kêu ven nước. Đọc lại bài thơ liên cú cùng làm bữa trước ba người nhận ra cô chủ quán không phải là nàng Thơ, không phải là nữ thần Hồ Tây mà chính là Công Chúa Liễu Hạnh.

Ít năm sau Tiên Chúa hiện ra tại làng Sóc Hương, thuôc tỉnh Nghệ An. Sóc Hương có cảnh thanh tú. Mạn Bắc có một giải núi, trong thung lũng có một con suối uốn khúc, hai bên bờ suốiø là một vườn đào cành lá xum xuê.Đang giữa mùa hè, trời nắng trang trang nung nóng cát mà vẫn thoang thoảng gió mát. Tiên Chúa ngồi dưới gốc đào, tầm mắt đảo từ rặng núi xa, về dòng suối trong vắt và rặng đào lá xanh hoa thắm. Trên cành ríu rít tiếng chim, dưới khe tung tăng cá lội, hoa đào từng cánh từng cánh rụng xuống lòng suối chẩy triền miên. Cảnh xinh làm Tiên Chúa nhớ lại những ngày sống trên thượng giới, Để xua đuổi nỗi nhớ, Tiên Chúa dạo bước trong rừng đào. Vừng ô dần khuất sau núi, và bóng chiều dần xuống mỗi lúc một dầy. Tiên Chúa trầm mình trong cõi mộng. Bỗng nhiên, tới cuối đường mòn Tiên Chúa găp một nho sinh, tuổi chừng đôi mươi, hình dáng nho nhã, tay cắp sách, đang rảo bước về xóm Đoài. Tiên Chúa lên tiếng hỏi thăm đường. Chàng thư sinh dường không nghe thấy tiếp tục tiến bước không trả lời. Tiên Chúa nhận ra chàng thư sinh là hoá thân của Đào Lang, bèn rút trâm vạch trên thân cây một bài thơ tặng chàng. Chàng nho sinh chính là Đào Lang tái sinh vào một gia đình nề nếp, nhưng chẳng may loạn lạc đã khiến thành một chàng trai mồ côi không còn nơi nương tựa. Tuy nhiên trong cảnh bần hàn, chàng vẫn theo học mấy vị túc nho trong làng. Chiều đó, từ trường về chàng đã gặp Tiên Chúa.

Mấy bữa sau, cũng từ trường về, Đào Lang chợt dừng bước tại khúc đường mà bữa trước chàng gặp người phụ nữ hỏi thăm đường. Chàng chợt thấy bài thơ khắc trên thân cây đào. Đọc kỹ bài thơ chàng chắc chắn là tác giả bài thơ đó không ai khác là thiếu phụ hỏi đường bữa trước. chàng liền họa nguyên vận và khắc bài họa cạnh bài xướng. Rồi chàng thơ thẩn quên về dầu trời chiều đã nhọ măt người. Liền mấy ngày sau, trời mưa không dứt, khiến Đào Lang buồn bực chịu trói chân ở nhà. Khi trời mới hừng nắng, chàng vội chạy ra gốc đào thăm hai bài thơ khắc trên cây sau trận mưa ngâu. Thấy hai bài thơ khắc trên cây, nét chữ còn tươi khiến chàng mừng trong dạ, nhưng đồng thời như mê mẩn không muốn dời bước. Chợât chàng nghe tiếng bước chân tới gần sau lưng, quay lại thì chàng nhìn thấy Tiên Chúa. Sau lời chào hỏi thường lệ, cùng lời khen tụng hai bài thư xướng họa, câu truyện giữa hai người quay về buổi gặp gỡ lần đầu.

Tiên chúa nói:

– Thiếp là con là khoa hoạn, ở cách đây không xa. Cha mẹ khuất núi, thiếp dời về đây.

Đào Lang trả lời:

– Ta cũng cùng một cảnh côi cút như nàng, và chưa tính tới truyện tạo đoan. Ta ước ao cùng nàng kết nghĩa.

Tiên Chúa nhìn xuống, đỏ mặt không đáp. Thế rồi, đêm đó trời sáng sao, giải Ngân Hà rực rỡ như chưa từng thấy; gió mát hây hẩy, bụi hồng ngát hương. Tiên Chúa và Đào Lang thành vợ thành chồng. Một năm sau Tiên Chúa hạ sinh con trai.

Từ ngày lấy vợ Đào Lang sao lãng việc học mà chỉ mê mải làm thơ. Rồi tới một chiều, Đào Lang về tới nhà chậm hơn mọi ngày, cháng đưa roi thơ cho Tiên Chúa đang ngồi dệt bên khung cửu. Tiên Chúa dịu dàng nói:

– Thơ chàng thật chẳng ai sánh kịp. Nhưng không phải vì thơ mà chàng mài miệt bút nghiên bấy lâu nay. Nhưng xin chàng nghe thiếp phận trai là thờ vua trị nước giúp dân. Vậy phải dùi mài kinh sử hơn là chau chuốt vần thơ để nổi danh thi bá

Nghe vợ nói, Đào Lang nghiêng mình hứa cùng vợ là chàng sẽ chiếm bảng vàng trong khoa tới. Như lới hứa, Đào Lang thi đậu liền ba khoa thi hương thi hội thi đình, và được bổ vào làm tại viện Hàn Lâm.Từ ngày đại đăng khoa, Đào Lang và vợ sống một chuỗi ngày đầy hạnh phúc. Thế rồi một chiều mùa đông, Tiên Chúa, mắt nhòa lệ nói với chồng:

– Thiếp không phải là ngưởi dương thế mà vốn là con Đức Ngọc Hoàng, thiếùp lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên mói bị giáng xuống trần gian. Còn chàng vốn là một vị tinh tào. Trước đây đôi mình đã có một thời làm vơ. làm chồng, mối tơ duyên đó đã đứt khi thiếp hết hạn lưu đầy trở lại thượng giới. Rồi đôi mình lại có dịp tái hợp. Nay lại tới ngày thiếp phải về thượng giới, dầu không muốn cũng không sao khác được.

Đào Lang nghe truyện, xửng xốt hồi lâu nói không ra lời, rồi bật lên khóc nức nở. Chàng năn nỉ vợ giáng ở lại cùng nhau thêm ít năm tháng nữa. Nhưng có ai thoát khỏi số trời. Trống sang canh ba Tiên Chúa bồng con trao cho chồng, rồi xụp lậy giã từ. Đào Lang nắm tay Tiên Chúa như không muốn dời. Nhưng ngoài cửa đã có một cỗ xe loan cùng một đoàn tiên nữ đứng đợi. Tiên Chúa nhẹ rút tay khỏi tay Đào Lang, lẹ bưóc lên xe. Cỗ xe cùng bầy tiên và Tiên Chúa biến mất dạng trong bóng đêm. Đào Lang xúc động ngất xỉu.

Từ ngày đó Đào Lang không màng tới việc quan. Khoa hoạn chỉ còn là hai chữ vô nghĩa. Chàng làm sớ từ quan khi tròn ba mươi tuổi. Quay về cõi vườn đào, chốn xưa chàng gặp gỡ Tiên Chúa, Đào Lang sống đời ẩn dật, vui cùng bầu rượu túi thơ và chú tâm rèn luyện cho đứa con theo sở nguyện của Tiên Chúa. Người con Đào Lang cũng đền đáp công ơn cha mẹ học hành đỗ đạt vinh hiển.

Tiên chúa khấu đầu trước ngai rồng. Ngọc Hoàng phán hỏi:

– Giáng lâm cõi Nam chuyến này hẳn con được toại ý.

Tiên Chúa nói:

– Sau năm con giáp lưu đầy hạ giới, con xin tâu lên vua cha là lòng con còn quyến luyến dám trời Nam, và con lại xin vua cha cho con được xuống cõi Nam thêm một lần nữa.

Suy nghĩ hồi lâu, Ngọc Hoàng chấp thuận, và truyền cho Hồng Nương và Quế Nương theo hầu Tiên Chúa, giáng lâm giữa ban ngày xuống vùng Phố Cát, thuộc tỉnh Thanh Hoá.

Phố Cát là một vùng đồi núi trùng trùng, đất cát mầu mỡ, rừng rậm sông sâu. Tiên Chúa và hai vệ nữ ban ân cho người lành, hành tội kẻ dữ. Dân chúng trong vùng chung nhau lập dền
thờ tráng lệ. Tiếng đồn vang tới kinh đô.

Năm Cảnh Trị đời Lê (1662), triều đình sai quân phá đền. dẹp tà thần. quân vua trảy về Phố Cát còn có nhiểu phương sĩ cao tay ấn từ khắp nơi trong nưóc theo phò. Tới nơi, quan quân dán bùa trừ tà, dẹp âm binh, rồi tiến về đền. Tiếng chiêng tiếng trống thúc quân, tiếng tên bay, tiếng ngựa hí, tiềng voi gầm, tiếng người reo ho, tiếng súng thần công vang dộâi khắp vùng đồi núi. Rồi mưa như thác đổ, xấm chớp liên hồi. Cuối cùng quân vua đốt trọn ngôi đền thành tro.

Kết quả là chiến trận làm sinh linh tan tác, cả chim trời cá biền cũng lâm cành lầm than, và làm Tiên Chúa nổi giận. Thế rồi dịch tễ lan tràn, người vật chết như ngả rạ. Người Phố Cát đều tin là Tiên Chúa tác oai. Hào lý trong vùng dâng sớ về kinh báo tin và đồng thời xin triều đình tìm cách cứu dân.

Trước oai linh Tiên Chúa, triều đình cho phép xây đền Phố Cát và sắc phong Tiên Chúa làm Mã Cái Công Chúa. Mã Cái là danh hiệu thời nhà Lê có nghĩa là Thánh Mẫu. Từ đó dân vùng Phố Cát mới khỏi nạn dịch tễ. Sau đó lại tấn phong la Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương. Sang đời nhà Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ sáu (1845) sắc phong lên hàng Thượng Đẳng Thần. Rồi vua Tự Dức (1853), vua Đồng Khánh (1887) và vua Thành Thái (1903) lần lượt tái phong Tiên Chúa làm Thượng Đẳng Thần.

Đông đảo người Việt Nam sùng tín Thánh Mẫu Liễu Hãnh. Hầu hết đền chùa đều có điện thờ Thánh Mẫu. Tại đền Phủ Giầy hàng năm còn mở hội vào ba ngày mùng bẩy mùng tám và mùng chín tháng ba.

Người đọc tìm thấy tung tích Đào Lang và người con trai qua thần tích Thường Lạc Sơn Nguyễn Đại Vương, tại đền thờ ở thôn An Trí, xã Nội Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An. Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam của nhóm Ngô Đức Thọ, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1993, chép theo sách can Lộc Huyện Phong Thổ Chí:

Tương Truyền ở bản thôn có Nguyễn Phán là người tài hoa, khi du học phương xa gặp chúa Liễu Hạnh ở vùng Quỳnh Lâm, kết làm đôi lứa. Sau ba năm sinh được hai trai: trưởng là Nguyễn Cả, thứ là Nguyễn Hai. Sau đó Phán thi đậu, được bổ chức Thị Nội Văn Hàn. Bấy giờ tiên nữ cưỡi mây về trời. Phán buồn rầu, xin nghỉ việc quan, trở về nhà lấy sơn thủy làm vui. Nguyễn Cả, Nguyễn Hai lớn lên thông minh tuấn tú, tài năng hơn người. Năm Hồng Đức thứ hai, Cả và hai chừng 16, 17 tuổi, gặp lúc Chiêm Thành cho quân ra quấy phá biên địa, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu xuất binh. Cả và Hai xin phép cha cho về kinh giúp vua dẹp giặc. Vừa lúc ấy ở chân núi Thường Lạc, xuất hiện hai con voi trắng, bên cạnh mỗi con đều có sẵn một chiếc roi sắt, người làng đến dụ, voi nằm yên không động. Nhưng khi Cả và Hai đến, hô một tiếng voi liền thuần phục. Hai người cỡi voi về kinh. Dọc đường gặp quan quân nhà vua Nam chinh, hai ông vào yết kiến, vua phong cho làm tiên phong. Chưa đầy nửa năm, dẹp yên quân giặc, hai ông được phong chức Đại Tướng Quân. Năm Hồng Đức thứ sáu, nguyễn Phán qua đời, hai ông xin về quê chịu tang cha. Trong thời gian ở quê nhà, hai ông cho đào một hồ lớn, tục gọi là Hồ Dài, chiêu mộ quân lính tập thủy trận. người làng theo đông. Vua nghe tâu cho rằng hai ông mưu khởi loạn, bèn triệu về kinh rồi sai đi trấn giữ ở nơi quan ải, không cho về quê quán. hai ông đành tuân lệnh ra đi, rồi mất ở nơi đồn trú. Trước khi mất, ông dặn các con đóng thuyền, đặt quan tài và hộp bài vị ghiđầy đủ tên họ, quê quán, chức tước, trồi thả cho trôi theo dòng sông. các con y theo lời dặn. Thuyền xuôi ra biển, rồi giạt vào cửa biển Cương Gián, huyện Nghi Xuân. Dân xã thấy vậy cho là điềm gở, đẩy cho trôi ra khơi. Nhưng chiếc thuyền trôi ra rồi lãi giạt vào. Người làng Đông Gián lấy làm lạ, mở hộp đựng bài vị ra xem mới hay sự việc, bèn cho người sang xã An Trí báo tin. Dân bản xã đến rước quan tài hai ông về an táng, xây lăng, lập đền thờ phụng. Vua nghe tâu, sắc phong làm trung đẳng thần. Nhưng thần tỏ ý không ưng, nổi cơn giông tố, kinh sư giữa ban ngàytrời đất tối đen. Vua gia phong cho làm thượng đẳng thần, mưa gió mới tạnh. Khi đoàn phụng sắc, đi qua đền Tiên Mẫu ở Phố Cát, tiên mẫu hiển ứng ban cho một đôi long bàn để dân làng rước về thờ phụng. Đền hằng được coi là ngôi đền thiêng trong bản huyện.

Đối chiếu thần tích trên đây với sự tích Công Chúa Tiên Dung, người đọc thấy có điểm không ổn. Đó là những niên biểu. Trong thần tích Nguyễn Đại Vương, ghi niên hiệu Hồng Đức thứ 2, tức năm 1471, khi Nguyễn Cả và Nguyễn Hai chừng 17, 16 tuổi. Sự tích Thánh Mẫu ghi năm người giáng thế là năm 1557, tức là năm Thiên Hựu thứ hai. Điểm thứ hai là trong thời gian tại thế, Công Chúa Liễu Hạnh chỉ có với Đào Lang một người con trai, trong thần tích Nguyễn Đại Vương ghi là có hai người. Giải quyết những điều bất ổn này là vấn đề của giới nghiên cứu.

Tóm tắt Vân Cát Thần Nữ Truyện để viết sự
tích Công Chúa Liễu Hạnh, người viết đã tạm lược bỏ một đọan dài trong nguyên bản nói về mối duyên bút mực giữa Công Chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Mối duyên bút mực này dường biểu thị thi tài của Đoàn Thị Điểm khởi hứng từ văn học truyền miệng trong đại chúng. Mối duyên bút mực đó như sau.

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tự Hoằng Phủ, hiệu Nghị Trai, người làng Phùng Xá, tên nôm là làng Bùng, huyện Thạch Thất tỉnh Sơn Tây. Theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan là em cùng mẹ khác cha của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491-1585). Ông thi đậu hương cống thì gặêp cảnh nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, ông vào Thanh Hóa theo giúp vua Lê. Đến năm ông 53 tuổi, dưới triều vua Lê Thế Tôn, Quang Hưng thứ 3 ông mới đậu tiến sĩ. làm quan đến Hộ Bộ Thượng Thư, tước Mai Quân Công. Năm 70 tuổi ông đi sứ sang Trung Quốc. Ông để lại hơn mười thi tập, trong số đó có hai tập Phùng Sứ Thần Thi Tập và Phùng Thái Phó thi có lời đề tựa của sứ thần Triều Tiên Lý Thúy Quang viết vào năm 1597. Nhân dịp đi sứ này Phùng Khắc Khoan mang từ Trung Quốc về những hạt giống ngô đậu. Ông còn có công truyền cho đại chúng nghề dệt the lụa, cùng khai mương dẫn nưóc tư ønúi Thầy về cánh đồng Đặng Xá. Hoàng Xá, Phùng Xá. Nhớ những công ơn ấy, đại chúng gọi ông là ông Trạng Bùng. Hàng năm tổ chức ngày giỗ ông tại đền thờ nhằm ngày hai mươi bốân tháng chín âm lịch.
Quanh Phùng Khắc Khoan có nhiều truyền thuyết chép thành sách như cuốn Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện, chép sự tích bà mẹ sinh ra Phùng Khắc Khoan, hoặc nhiều truyện khác chép trong sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề.

Dựa trên sách Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện Trần Lê Sáng viết:

Thân phụ Phùng Khắc Khoan, người Thạch Thất, Sơn Tây, đậu tiến sĩ triều Lê, rất giỏi nghề địa lý. Buồn vì thời thế, ông đi ngao du sơn thủy, tìm đất tốt.

Một lần ông đến vùng Từ Sơn, Kinh Bắc, bỗng gặp một phụ nữ trên đường. Nguời phu ï nư õ này mày thanh mắt sáng, da trắng tựa đánh phấn, môi đỏ tựa thoa son, dáng người óng ả tha thướt, ăn mặc giản dị.

Hai người tình cờ gặp nhau và đi cùng một đường. Đi được một đoạn đường ông hỏi:

– Sao nương tử đi một mình? Nương Tử từ đâu tới?

Người phụ nữ dịu dàng nhìn ông. Thấy dáng mạo ông trang nhã, mặt có phúc tướng, nghĩ ngợi một lát rồi nói:

– Thiếp người Hải Dương. Có mối thù mà sức mình không trả được. Thiếp mong có đứa con trai, nuôi dưỡng cho thành tài để trả thù cho mình.

Ông nghe nói cảm kích tiếp lời:

– Nương tử là bậc nữ lưu mà còn có chí lớn như vậy. Tôi là kẻ mày râu nam tử, từng mặc áo đội mũ triều cũ, làm sao có thể làm tôi tớ cho bọn phản nghịch!

Hai người nói chuyện tâm đầu ý hợp, rồâi cùng về Sơn Tây kết làm vợ chồng. Năm sau sinh con trai, tiếng khóc to, mắt sáng, gân cốt khác thường. Đó là Phùng Khắc Khoan.

Khi Phùng Khắc Khoan năm, sáu tuổi đã có khí vụ trượng phu. Phu nhân nói với chồng:

– Nhờ trời sinh con trai. Xem ra có nét phi phàm, ông nên dậy con học hành, may trời không phụ thì sau này nó có thể hoàn thành chí nguyện của thiếp.

Từ đó ông đem hết sở học dậy con. Đến năm 15 tuổi, không còn đủ sức dậy con, ông bèn gửi sang Hải Dương theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Theo sách Công Du Tiệp Ký của Vũ Phương Đề, và do Trần Lê Sáng viết lại thì:

Mẹ Phùng Khắc Khoan ngưòi Hải Dương, con gái thượng thư Nhữ Văn Lan, thông minh xuất chúng, giỏi dịch số và địa lý. Hơn hai mươi năm kén chồng, có chí lớn, mãi sau bà mới lấy

Nghiêm Quân Công Nguyễn Văn Định.

Bà sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nhỏ ông Văn Định nói với con nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bà giận lắm, cho rằng nguyệt là trăng biểu tượng kẻ làm tôi, bèn bỏ ông Văn Định đi ngao du sơi với

Khi đến Thạch Thất, gặêp một người hiền lành, có tướng sinh qúy tử, kết làm vợ chồng và sau sinh ra Phùng Khắc Khoan.

Năm Khắc Khoan bẩy, tám tuổi, đang chơi ở sân đình thì có người khách lạ đi qua cứ nhìn khắc Khoan. Khắc Khoan cũng nhìn lại chằm chằm. Người khách hỏi Khắc Khoan sao cứ nhìn vậy. Khắc khoan nói:

– Tôi thấy ông hơi lạ. Nếu là quan thì sao không có người theo hầu. Nếu là dân sao không có bắp tay bắp chân của thợ cầy?

Người khách nghe nói cười lớn. Người khách đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm Phùng Khắc Khoan mười lăm tuổi, cha ông gửi sang Hải Dương học với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai anh em một mẹ khác cha rất là tâm đắc.

Cũng theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan gặp công chúa Liễu Hạnh hai lần; lần thứ nhất trên đường đi sứ về tới Lạng Sơn, lần thứ hai tại Tây Hồ gần kinh đô. Truyện do Trần Lê Sáng chép như sau về chuyến gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Lạng Sơn:

Lúc Phùng Khắc Khoan đi sứ về tới Lạng Sơn, ông thấy một cô gái xinh đẹp ngồi dưới ba cây thông, trước sân chùa, vừa đàn vừa hát. Ông lên tiếng:

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Câu này có nghĩa là: ba cây che sân, cô gái đẹp ngồi đó, nhưng đồng thời chơi trò chiết tự: tam mộc là ba chữ môc ghép lại thành chữ sâm; chữ hảo do chữ nữ đăt cạnh chữ tử mà thành. Người con gái nghe vậy bèn đối:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Câu này nghĩa là: núi non mở đường, sứ giả đi đến là ông quan, đồng thời cũng chơi trò chiết tự: Trùng sơn là hai chữ sơn chồng lên nhau thành chử xuất, chữ sứ do chữ nhân và chữ lại ghép thành.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc vì sự đối đáp thông minh và mau lẹ của cô gái. Ông bèn tiếp:

Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm.

Nghĩa là: cô sơn nữ ngồi ghế phải chăng là tiên nữ giáng trần. Nhưng lắt léo ở việc chiết tự: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên; chữ bằng có bộ kỷ, chữ nhất và chữ kỷ ghép thành chữ phàm.
Cô gái không cần nghĩ ngợi đáp ngay:

Văn tử đới trường căn, tất thị học sinh thị trướng

Nghĩa là: nhà văn chít khăn dài, đích thị học trò nhìn trướng. Câu đáp lịch sự dí dỏmvà chiết tự cũng rất tinh tế. Chữ văn và chữ tử ghép thành chữ học, Dưới chữ đới có bộ cân, chữ trường và chữ cân ghép thành chữ trướng.

Phùng Khắc Khoan vô cùng khâm phục cô gái. Ông cúi đầu làm lễ, lúc ngẩng lên thì cô gái đã biến mất, chỉ còn thấy trên cây gỗ viết bốn chữ: Mão Khẩu Công Chúa, cạnh đó treo tấm biển cũng có bốn chữ: băng mã dĩ tẩu.

Những người đi cùng sứ đoàn chẳng ai hiểu câu đó như thế nào, hỏi Phùng Khắc Khoan thì ông từ tốn đáp:

– Cây gỗ là mộc, mộc thêm chữ mão là chữ liễu; mộc thêm chữ khẩu là chữ hạnh, người con gái vừa rồi là Liễu Hạnh công chúa. Còn bộ băng đi với chữ mã, chính là họ Phùng của ta. Chữ dĩ cạnh chữ tẩu chính là chữ khởi. Có lẽ Liễu Hạnh công chúa dặên họ Phùng ta phải khởi công sửa lại ngôi chùa này.

Sau đó Phùng Khắc Khoan đã cho người tu sửa lại ngôi chùa. Trên cổng chùa ông treo tấm hoành phi có bẩy chữ:

tùng lâm tịch mịch phất nhân gia

Nghĩa là: Rừng thông vắng vẻ không phải nhà người thường. Nhưng câu này cũng chơi triết tự tinh vi: chữ phất đi với chữ nhân là chữ Phật. Phất nhân gia còn hiểu là Phật gia, là nhà Phật.

Giai thoại kể lại cuộc gặp gỡ lần thứ hai giữa công chúa Liễu Hạnh và Phùng Khắc Khoan như sau:

Về kinh đô Thăng Long, một bữa Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi hồ Tây. Ba người lững thững đến một quán rượu bên hồ, ngoài cửa quán thấy đề bốn chữ lớn: Tây Hồ Phong Nguyệt. Có cô gái xinh xắn ra chào nói:

– Đây là quán hàng mới của Liễu Nương, xin quí ông vào sơi rượu làm thơ tự nhiên.

Ba người đi vào, thấy trên tường có dán bài thơ, nét mực còn tươi:

Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt
Thời chính nhân bàng lập thổ khê
Khách hữu tâm linh cầu nguyệt đới
Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề

Bài thơ có nghĩa là;

Cửa quán là đây trăng sáng soi
Bên mành ai đứng đợi chờ ai
Khách đến ba người thừa đội nguyệt
Một cây huệ mọc giữa hai ngài.

Phùng Khắc Khoan đọc bài thơ ngẫm nghĩ. Người bạn họ Lý chiết tự nói: Điếm phương nhàn tức quán đang vắng, thời chính giai tức được buổi đẹp, Khách hữu tâm tức khách có lòng; huệ nhiên lai tức mời vào chơi.
Bỗng ngưới hầu gái thưót tha bưng ra một cái khay, trên khay có tấm thiếp viết câu:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên

Ba người hết sức ngạc nhiên, biết đây là câu mở của một bài thơ liên cú. Lý, Phùng, Ngô liền theo câu đó, mỗi người lần lượt làm một hai câu thành bài thơ như sau:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên
Túng mục kiền khôn tận khoát nhiên
Cổ thụ nhiễu trang thanh tịch mịch
Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên
Hoạt kế thùy gia nhất chích thuyền
Cách trúc sơ ly văn khuyển phệ
Phanh trà bại bích thấu trù yên
Khinh khinh quế trạo thứ trung đãng
Đoản đoản xoa y thân thượng xuyên
Phảng phất Động Đình du Phạm Lãi
Y hy bích hán phiếm Trương Khiên
Thiên tầm hiệu đãng am thâm thiển
Tứ ccá vi mang điệt hậu tiên
Ải nãi vãng lai hồng liễu bạn
Âu a xuất nhập bạch lư biên
Sa trung hiệp hý vong cơ lộ
Vân ngoại nhàn khan xuất tính diên
Kỷ khúc thương ca văn thủy quốc
Nhất song bạch nhãn ngạo trần huyên
Giao đầu đối thoại y hà cát
Thân thủ tương chiêu hý khiếm tiền
Lạp phong thiên gian tàng thái nỗn
Lam trần sao để dưỡng ngư tiên
Hoặêc tương đạm tửu hoa tùng chước
Thời chẩm trường cao liễu ánh niên
Túy hậu linh tinh phao thủy diện
Dục dư hiệu liễu bộc phong tiền
An hoa mục tử thân bàng kết
Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên
Bão tất từ ngô quan bạng thế
Thám hàm tiều bị một long uyên
Võng sơ mỗi tỵ thế đồ hiểm
Câu trục tu tương lợi nhĩ huyền
Hàn chử hạ lai do át nhật
Trường an đông tận vị trì niên
Tam công khẳng bả thiên hà hoán
Bán điểm ninh dung lục lự khiên
Vị thủy nhậm phù băn bá bốc
Đào nguyên hào phoóng Vũ Lăng duyên
Văn chung sạ giác tâm vi Phật

***

Đến đây bỗng từ trong nhà vọng ra tiếng chủ nhân họ Liễu ngâm:

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Lý, Phùng, Ngô không hẹn mà cùng vỗ tay khen câu kết. Nếu cắt câu mở ghép với câu kết, hai câu ấy sẽ là:

Tây Hồ biệt chiếm nhất hồ thiên
Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Rõ là hai câu thơ của cùng một người thơ. Lời thơ, ý thơ, tâm tình nhà thơ đều nhất quán.
Bài thơ liên cú trên đây dịch nguyên vận như sau:

Hồ Tây riêng chiếùm trọn một miền
Đất trời ngon mắt cảnh thiên nhiên
Cổ thụ làng bên xanh ngắt ngắt
Trâu vàng đầm rộng nước mông mênh
Sinh nhai lác đác vài gian cỏ
Kiếm sống nhà ai một mái thuyền
Giậu trúc khó ngăn tiếng chó sủa
Vách xiêu không cản khói vươn lên
Chèo quế tay đưa khua nhè nhẹ
Áo tơi sột soạt khoác lưng bên
Thấp thoáng Động Đình thuyền Phạm Lãi
Dập dềnh Sông Hán bè Trương Khiên
Ngàn trùng nào biết đâu nông cạn
Bốn mặt khó phân nẻo hậu tiền
Chèo đưa bến lác lùa lau lách
Câu hát bờ lau khúc triền miên
Đánh bạn cồn ngoài cùng cò cốc
Mắt dõi mây xa cánh quạ đen
Giọng hát đục trong vang đáy nước
Tròng mắt trắng xanh cuộc đảo điên
Long hà đầu gối truyện không dứt
Giữ thân tay trắng cười không tiền
Mặt hồ thả nón hái rau búp
Đáy nước thả câu đợi phao chìm
Dưới hoa rượu chuốc say túy lúy
Bóng liễu gác chèo tạm buộc thuyền
Say rồi cởi áo thả theo sóng
Tắm đọan buông quần hóng gió lên
Thượng uyển tiều phu y hẹn cũ
Yên hoa mục tử kết bạn hiền
Bụi rậm rình cò tài ẩn núp
Hàm rồng mò ngọc khéo bon chen
Lưới trời thưa mắt mà không sót
Lưỡi câu danh lợi thoát đòi phen
Hè về bến mát còn ham nắng
Tràng An đông tận năm chưa tàn
Tam Công chẳng sánh vui khói ráng
Thanh cao nào nhuốm nửa bụi trần
Sông Vỵ há tin lời bói toán
Đào Nguyên ước nối Vũ Lăng duyên
Nghe chuông chợt nhớ tâm là Phật
Nhìn trăng soi bóng ta là Tiên.

Ít lâu sau, Phùng, Lý, Ngô lại tới quán nàng họ Liễu. Nhưng đến nơi thì quán cũ không còn. Trên cây chốn cũ ve sầu kêu ra rả. Ba người nhìn thấy trên thân cây có bốn câu chữ triện

Vân tác y thường phong tác xa
Tiên du Đầu Suất mộ yên hà
Thế nhân dục thức ngô danh tính
Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa.

Lý và Ngô hỏi Phùng Khắc Khoan về ý bài thơ trên. Ông trẫm ngâm một lát rồi nói:
– Ba câu đầu thì quý bạn đã rõ:

Lấy mây làm áo gió làm xe
Sáng chơi Đầu Suất xế yên hà
Người đời muốn hỏi ta tên tuổi

Câu chót thì chữ nhất trên chữ đại là chữ thiên, chữ sơn bên chữ nhân là chữ tiên, vậy là

Rằng tiên thượng giới Ngọc Quỳnh hoa

Không một ai thắc mắc truyện thâït giả của những giai thoại gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Nhưng ai ai cũng thấy đó là hình ảnh công chúa Liễu Hạnh trong dòng thơ Việt Âm, chẳng khác gì hình ảnh Tây Vương Mẫu trong văn học Trung Quốc qua các áng thơ của Lý Bạch, Vương Duy cũng như Lý Thương Ẩn, đời Đường.

Thảo luận cho bài: "Liễu Hạnh Công Chúa"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả