Nơi Đất Lạ Thấy Quê Hương

Tác giả:

Mai sau dù có bao giờ…
TTCN – Chợ đêm Kỳ Hòa, cuối tháng 5-2004. Rực ánh đèn màu dưới trời bát ngát sao. Ai đó ngẫu hứng cất lên một bài vọng cổ. Không tiếng đàn phụ họa. Xôn xao phố chợ chợt lặng đi cùng với trời đêm và lời ca mang nỗi niềm của người xa xứ. Mọi người nhìn nhau vì đều chưa từng nghe bài ca này bao giờ.

Hỏi thăm, được biết người vừa say sưa hát là anh Vương Ngọc, diễn viên của nhiều đoàn cải lương miền Nam và hiện tham gia sân khấu ca nhạc của chợ đêm Kỳ Hòa. Còn bản vọng cổ với ca từ trau chuốt cùng ý tình sâu lắng ấy là một di cảo của cố soạn giả Hoa Phượng (các vở: Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển – soạn chung với Hà Triều, Hạt bụi và non cao…), sáng tác khoảng năm 1984 và hiện rất ít người được biết.

Chúng tôi đã nhờ nghệ sĩ Vương Ngọc giúp chép lại bản vọng cổ này để giới thiệu cùng bạn đọc TTCN.

Bài vọng cổ: Nơi đất lạ thấy quê hương
Soạn giả: Hoa Phượng

Paris, ngày 17-4-1984
Gửi anh Thanh, người bạn già thân thiết bấy nay.
Hơn 30 năm xa quê lập nghiệp bên Tây, hôm nay tôi viết thư này cho anh với nhiều suy gẫm. Số là tôi cùng một vài bạn Pháp qua Sénégal săn bắn, chúng tôi căng lều nghỉ giữa rừng hoang, cạnh lều tôi là một dòng suối con rón rén chảy dưới trăng, đêm hung bạo giấu mình trong yên lặng.

Câu 1:
Vừa mới ngả lưng tôi tưởng mình đã đi vào mộng vì có tiếng đờn tranh văng vẳng. Tiếng đờn đã làm sống lại trong tôi bao bóng hình yêu mến mà bấy lâu nay tôi hằng quên bẵng trong lòng… Thế rôi vầng trăng hoang dã bỗng đài trang theo mười sáu dây đồng. Mầy cụm chà là ưu tư huyền hoặc cũng mơ màng nhẹ phất hương cau. Nằm trong túp lều săn mà tôi tưởng mình đã thả thuyền trên sông Tiền sông Hậu. Bao nhiêu năm xuôi ngược bềnh bồng, đêm nay kẻ tha hương bỗng thấm thía tận cõi lòng câu lênh đênh đất khách.

Câu 2:
Lất phất sương bay đêm dài tôi trằn trọc, bỗng tiếng đờn tranh réo rắt len theo kẽ lá tàn cây làm ray rứt kẻ yêu đời. Tôi nhớ lại ngày xưa khi chưa lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Bây giờ có sự nghiệp trong tay tôi đang ở đây để dự trò tiêu khiển, bỗng tiếng đờn tỉ tê ai oán như nhắc tôi tìm lại cội nguồn, phải chăng có người Việt đang an phận thủ thường trong rừng rậm châu Phi.

Nói:
Thế rồi tôi cùng một thổ dân lần đường tới đó, nơi có tiếng đờn tranh mời mọc dịu dàng. Tiếp chúng tôi là một ông lão da đen, mái tóc xoắn bạc phơ như sóng biển, khi nghe có người Việt Nam tới kiếm, ông cầm tay tôi rồi lẩm bẩm: Việt Nam, Việt Nam, bên ngọn đèn mờ ông để nước mắt chảy tự nhiên, giọt mừng rỡ, giọt buồn như nhắc tôi một kỷ niệm mơ hồ nhưng có thật.

Câu 4:
Ông nói: tôi biết rành tiếng Việt vì mảnh đất thân yêu kia đã tặng cho tôi một kỷ niệm suốt đời không phai lợt. Đến nôi có những buổi trưa nhìn trời Sénégal mù cơn bão cát mà tôi nhớ sông nước Thủ Thiêm bàng bạc sương chiều. Xin tha lỗi cuộc gặp gỡ hôm nay tôi nói hơi nhiều. Tôi ở đây ngót 20 năm làm bạn với tiếng đờn tranh và khu rừng quạnh quẽ. Tiếng đờn khi xưa giúp tôi hiểu được thân phận của người dân thuộc địa và nỗi buồn của lính viễn chinh, bây giờ tiếng đờn nhắc tôi quí trọng một dân tộc tuyệt vời đã cưu mang tôi những mười sáu năm trời.

Câu 5:
Năm 1948 tôi bỏ súng trốn lính, ở Thủ Thiêm ngót sáu năm đằng đẵng. Mấy năm đâu tôi học nghề gói bánh của bà mẹ Việt Nam, đêm đêm bơi xuồng đưa mẹ bán bánh dọc Thủ Thiêm rồi qua bờ sông Khánh Hội.

Mỗi lần nghe tiếng còi tàu vang dội là tôi tưởng Tổ quốc mình lên tiếng gọi người lính viễn chinh mau tìm lại cội nguồn, hễ có chuyến tàu đi là tôi tan nát cả tâm hồn. Dẫu biết quê hương mình còn nghèo đói, bệnh tật triền miên, nhưng có niềm xúc động rất thiêng liêng khi tôi nhìn những vệt khói mỏi dần vẫn quấn quít theo sau con tàu ra biển. Trời Sài Gòn đêm nay nhởn nhơ bầy én liệng mà tôi tưởng hồn châu Phi đang lởn vởn trên đầu.

Câu 6:
Mấy năm sau tôi định hồi hương, mẹ nói: Còn giặc ở Bắc Phi mày hãy cố nhẫn nhục nữa đi để khỏi phí những năm dài trốn lính. Có buồn thì học đờn của ông Sáu già lối xóm để biết Thủ Thiêm có nghĩa có tình. Họ đùm bọc và thương yêu cả người không cùng chủng tộc. Thế là tôi rành ba Nam, sáu Bắc, rành luôn bài vọng cổ Việt Nam. Bảy năm sau mẹ già khuất bóng, tôi mua cây đờn tranh làm kỷ niệm rồi trình diện hồi hương. Sống giữa rừng trong những đêm thanh vắng, tôi mượn tiếng đờn tranh để nhớ mẹ Thủ Thiêm có ơn nặng biển trời.

Anh Thanh! Chuyện còn nhiều tình tiết nhưng thư viết có hơi dài, chắc anh thừa biết tôi đã nghĩ gì khi nghe người ngoại quốc ân cần nhắc tới Việt Nam.

TTCN

Thảo luận cho bài: "Nơi Đất Lạ Thấy Quê Hương"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả