Suy nghĩ 1966

Tác giả:

Viết sau khi đọc lời kêu gọi của Bác và bài nói chuyện với thanh niên của đồng chí Lê Duẩn

I
Sau chiến tranh mười năm, ta mở lại những chiến hào
Ở thêm đấy mười năm, ta sẽ ở
Nỗi vui ta như một bức tranh màu
Nơi giết giặc lòng ta tô sắc đỏ
Tuyến dài nhất tuyến thời ta trong sử
Cây xanh nhất là cây che tuyến lửa
Bệ phóng ta thường có bóng hoa vào
Thường có bóng hoa lay
Hàng vạn cây số trời đã thêm vào hàng muôn cây số đất
Sắc trời đã hoá màu Tổ quốc
Xưa cha ông đi mà nay con cháu bắt đầu bay
Chiều Hà Nội, những thiên thần phản lực
Xông lên trời lấy máu Mỹ giữa từng mây

II
Chưa có quân thù nào như vậy đâu hai mươi thế kỷ
Chiến trường xưa, kim cổ, chả ăn thua
Đâu phải chỉ có xương người, bóng trăng và ngựa hí
Cái đốm ma chơi trên cát trắng mơ hồ
Lưu hoàng mới và diêm sinh cũng mới
Xăng rót xuống mặt người. Tia tử ngoại
Cũng giết người. Từ đứa trẻ lên ba
Chưa baoi giờ đất nước nhiều dị tặc dị hình đến thế
Gót giày lạ giẫm đinh lên mặt mẹ
Lê đâm ta đúc nhiều kiểu khác nhau
Mỹ, nguỵ, chư hầu lớn, chư hầu con rồi lại Mỹ
Hố chôn người đứa đào chậm đứa đào mau
Chúng đạo diễn giết ta theo lớp lang theo tình tiết
Hỏng màn hai thì quay lại màn đầu
Chùa vĩnh viễn sẽ vương mùi thịt khét
Đất nghìn năm ngậm máu dưới bề sâu
Chúng kể gì gương mặt trẻ con, cái thai bà mẹ
Dù cho nghìn cặp tình nhân đang vào tối tân hôn
Những pháo-sáng-ngoại-tình thắp những tiệc hoa-đăng-của-quỉ
Chúng mơ giết ta là trên nghìn dặm Anh vuông

III
Nhưng có mùi mè gì đâu! Đất nước này “cân” được tuốt
Dù cho có chim mèo kêu, chim cú hót
Vành vạnh Vầnh-Trăng-Nghìn-Năm vẫn là Gương-Mặt-Việt-Nam cười
Mặt tục ngữ, hò khoan bốn mùa trong suốt
Mặt chú Tễu, tiếu lâm, Hứng Dừa, Hề Gậy reo vui
Những trời mây xám xịt đã tan rồi
Xanh trên mâm pháo là trời xanh ta bất khuất
Chân bó chiếu đã dẫm lên Lầu Năm Góc
Phóng tên lửa lên trời cao là cánh tay bật ngọn đàn bầu than vãn năm xưa
Tiếng hờ ơi ở các bến đò hoang thành khẩu lệnh Điện Biên Ấp Bắc
Ngôi sao lưu lạc cô đơn đã hoá nên vì sao chói lọi trên cờ

IV
Lịch sử gọi ta qua tiếng Bác Hồ
Trong trăm lứa đay là lứa con yêu mẹ nhất
Đứa giữa vườn rau, Việt Nam thành tiếng nấc
Đứa trên hạm tàu, Tổ quốc hoá lời ca
Ở mỗi kho xăng, ở mỗi bến phà
Đâu chẳng có thịt xương ta liền với đất
Ta đẻ đấy mà ta nhìn không chớp mắt
Lứa anh hùng của Đảng sản sinh ra

Hạ kẻ thù ngay cửa ngõ Thăng Long
Trận đánh này làm khoái chí cha ông
Giết được Mỹ, bao giờ ta lại mệt
Ta đánh dở thì cháu con đánh tiếp
Dù áo rách sờn vai, chân thiếu dép
Thế của ta là thế cuộn sông Hồng
Từ trận Hoa Lau, từ cọc Bạch Đằng
Cho đến buổi hạ trăm nghìn “thần sấm sét”
Kẻ chiến thắng có cần gì phải thét
Ở xứ này im lặng cũng xung phong

Xé bọc hồng đứa trẻ khóc oa oa
Vui như vui bà mẹ đẻ con ra
Hạnh phúc tính theo đầu người là anh giết được bao nhiêu thằng giặc Mỹ
Như cây yêu đời thì sinh được mấy muôn hoa
Đây trận đánh ta chờ bao thế kỷ
Trận trả đũa sướng triệu lòng nô lệ
Ôi! Ta là ta mà lại cứ mê ta!

V
Cho ngực trẻ con không bị hai hàng đạn thủng
Cho những chiếc nôi không còn đưa ru trong nghìn độ lửa thiêu
Cho những bà mẹ không phải đẻ con trong hơi hoá học lân tinh nóng bỏng
Cho thịt những chàng Kim không còn đốt cháy những cô Kiều
Cho…
Cho…
Cho…
Cho tất cả mọi điều!
Giết chúng đi! Chỉ một đường thôi! Giết chúng
Ôi hôm nay lòng ta như họng súng
DIỆT MỸ LÀ CAO CẢ CỦA TÌNH YÊU
28-7-1966

Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (Vũ Thị Thường sưu tầm, biên soạn)

Thảo luận cho bài: "Suy nghĩ 1966"

Tìm theo tác giả