Chương 14

Dù tội phanh thây
Cũng phải lôi Huyện trưởng Bí thư xuống ngựa!
Quần chúng làm reo phạm quốc pháp
Họ dung túng tay chân bốc lột dân
Họ phạm quốc pháp hay không?

– Khấu mù hát trước phòng thẩm vấn Công an Cục. Trích đoạn.

Cao Dương đánh xe lừa chất đầy ngồng tỏi chở lên huyện dưới trời đầy sao. Chiếc xe quá cũ, khung rệu rã kêu cót két, gặp đoạn đường xấu, kêu càng dữ, anh lo nó có thể bung ra bất cứ lúc nào. Qua chiếc cầu đá nhỏ trên sông Sa, anh ghì chặt chiếc vai xe trên cổ lừa, giúp nó bằng cách dùng mông ghìm bớt sức đùn theo quán tính của chiếc xe trở nặng. Con lừa chỉ to bằng con sơn dương mẹ, cho một bạt tai là quị. Những phiến đá hình chữ nhật trên cầu không phẳng, bánh xe xiên xẹo, kêu lọc cọc. Dười cầu, nước vũng phản chiếu ánh sáng xanh lạnh lẽo. Lúc lên dốc, anh ngoắc thừng vào vai, kéo giúp con lừa. Hết dốc là con đường nhựa chạy thẳng chạy thẳng đến huyện lỵ, mặt đường bằng phẳng, mưa gió không trở ngại. Đây là con đường làm sau Hội nghị TƯ III . Anh nhớ khi đó anh ca cẩm: “Bao nhiêu là tiền, cả đời mình lên huyện ủy được mấy bận?” Giờ thì anh biết mình sai, nông dân tầm nhìn hạn hẹp, tham con săn sắt, bỏ con cá sộp! Chính phủ sáng suốt, nghe lời chính phủ không bao giờ sai. Gặp ai anh cũng nói câu ấy.
Lên tới đường nhựa, anh nghe thấy phía trước khoảng hai ba chục mét có tiếng xe cót két và tiếng ho của ông già. Đêm khuya thanh vắng, tiếng hát bay lượn trên cánh đồng mênh mông, Cao Dương nhận ra đó là tiếng của chú Tư Phương. Chú Tư Phương hồi trẻ rất tài hoa, từng tham gia gánh hát “Con dê trắng”, nghe nói còn gây ra một vụ trọng án phong tình.
Chị Hai trang điểm sao mà đẹp ~ Nhí nha nhí nhảnh nhập động phòng ~ Kim vàng đâm thủng đài sen thắm ~Ngọc dịch quỳnh tương chảy khắp giường!
Ôi ông già! Cao Dương rủa thầm, thúc lừa tiến lên, đêm dài thăm thẳm, đường dài mênh mông, anh muốn có bạn đồng hành. Nhìn bóng dáng chiếc xe đồ sộ, anh lớn tiếng hỏi: “Chú Tư đấy phải không?”
Chú Tư im lặng. Tiếng cuốc kêu ra rả trong những bụi cây rậm rạp hai bên đường, vó lừa gõ trên đường gấp gáp, ròn rã, mùi tỏi lặng lẽ tỏa ra xung quanh, mặt trăng nhô lên từ phía sau ngọn cây, ánh trăng nhợn nhạt trên đường nhựa. Anh tràn trề hi vọng.
Xe anh bám chặt xe đuôi trước, anh lại hỏi: “Chú Tư đấy à?”
Chú Tư bằng một giọng trầm.
– Hát đi, chú Tư!
Chú Tư thở dài, nói: “Hát với hổng gì? Muốn khóc mà không khóc được đây này!”
– Con dậy đã sớm không ngờ vẫn sau chú, chú Tư!
– Còn có người sớm hơn, anh có nhìn thấy phân trên đường không?
– Chú Tư hôm qua chú chưa bán à?
– Thế anh bán rồi à?
– Hôm qua con không đi. Vợ con nằm ổ, đêm kia lục sục suốt đêm, một mình con bận tối mắt tối mũi.
– Trai hay gái?
– Thằng cu! – Cao Dương không giấu nổi vui sướng. Anh chợt hiểu vì sao anh vui. Vợ đẻ con trai, tỏi được mùa, Cao Dương mày đến lúc hên rồi! Anh nghĩ đến vị trí mộ mẹ anh, chỗ ấy đất kết, được phong thủy! Năm xưa mình nhẫn nhục, không khai mẹ chôn ở đây, quả có giá!
Chú Tư ngồi trên càng xe, châm thuốc hút, lửa lóe lên một thoáng soi tỏ mặt chú rồi trở về mặt sẫm, mùi thuốc khét lẹt trong không khí tươi mát của trời đêm.
Cao Dương đoán vì sao chú Tư buồn, dịch vào địa vị chú, anh cũng buồn. Anh nói: “Chú ơi, con người ta có số cả, tiền tài ư, hôn nhân ư, có số tất, buồn cũng chẳng ít gì.” Anh khuyên chú Tư, vì trong lòng anh đang thoải mái, anh biết, không phải vì chú Tư đang mắc chuyện mà khuyên, mà đơn giản vì anh đang bằng lòng về gia cảnh mình, anh cũng mong hai người con trai chú Tư sớm yên bề gia thất, người nghèo hay lo mà lại! Anh nói: “Dân làm ruộng mình không nên so đo với người khá giả, người so với người thì chết, hàng so với hàng thì vứt, chúng ta chỉ nên so với ăn mày, tuy nghèo nhưng chúng ta không đến nỗi ăn bữa hôm không bữa mai, mặc rách còn hơn cởi truồng. Cuộc sống có điều gì không vui, sức khoẻ còn tốt, thì dù thọt chân khoèo tay một tí cũng còn hơn hủi cùn hủi cụt, phải không chú Tư?”
Chú Tư ờ một tiếng, rít tẩu xèo xèo, ánh trăng bàn bạc soi trên càng xe, trên sừng trâu, trên tai lừa, trên đốm lửa sáng, trên tấm ni lông phủ trên tỏi.
Sau khi mẹ chết, con an ủi mình như thế này, con người ta phải biết thế nào là đủ, thì không đến nỗi tự giày vò. Giành hết phần tốt, vậy xấu để cho ai? Tất cả lên thành phố hưởng phúc, vậy lấy ai làm ruộng ở nông thôn? Ông trời dùng ra ba loại nguyên liệu để làm ra con người, cao cấp là quan là tướng, trung bình là công dân, kém làm nông dân. Cái loại như con làm từ nguyên liệu vét đĩa, được sống trên đời là may mắn rồi, con nói đúng không, chú Tư? Chú Tư thử ngẫm con trâu mà xem, nó kéo một xe tỏi, lại cả chú trên xe, đi chậm là chú vụt bằng roi. Vạn vật đều thế cả. Vậy nên, nhịn là hơn, nhịn được là người không nhịn được là ma. Cách đây mấy năm, bọn Vương Thái bắt con uống nước đái của con – Khi ấy Vương Thái chưa giàu – Con cắn răng, uống, rồi thì lại đái ra chứ sao? Tâm lý cả thôi, người ta giả vờ sạch sẽ. Các y bác sĩ mặc áo trắng bong có sạch không? Họ ăn cả nhau trẻ con, ông thử nghĩ, từ cái chỗ ấy của phụ nữ chui ra, máu me bê bếp, họ cũng không thèm rửa, cho ngồng tỏi vào, nêm mắm muối tương ớt, mì chính, mới tai tái mà đã ăn ngốn ngấu. Bác sĩ Ngô lấy cái nhau của vợ con, con bảo có ngon không, ông ta bảo ngon như sứa biển. Cái của đó mà lại ngon như sứa? Ông Tư bảo có kinh không chứ! Vậy nên họ bảo con uống nước đái là con uống ừng ực, hẳn một chai to. Sau đó thì thế nào? Con uống nước đái chẳng suy suyễn chút nào , con vẫn là con. Bí tư Hoàng không uống nước đái, năm sau dính bệnh ung thư, thuốc nào cũng không khỏi, về sau phải ăn rắn độc sống, rắn rết sống, cóc sống, ông vò vẽ sống, bảo là “Lấy độc trị độc”, “trị” nửa năm, toi luôn cả người!
Xe lừa và xe trâu rẽ vào con đường cát phía sau thôn Sa Oa, đầy những đụn cát to nhỏ trồng liễu đỏ, hòe tím, bạch lạp và dâu. Ánh trăng rọi trên những lùm cây, cành cây lấp lánh. Một con bọ hung bay vù vù rồi rơi đánh bộp xuống đường. ông Tư vụt con trâu một roi, rồi châm lửa hút thuốc. Con lừa cúi đầu lẳng lặng kéo xe lên dốc. Cao Dương thương con vật, liền khoác thừng kéo giúp. Cái dốc hơi dài, tới đỉnh nhìn lại, thấy đèn đóm phía sau như dưới hố sâu. Lúc xuống dốc, anh ngồi trên càng xe. Con lừa gò lưng, bốn chân loạng choạng suýt ngã, anh đành nhảy xuống, đi bộ theo xe.
– Xuống hết cái dốc này, ta được nửa đường chưa chú? – Cao Dương hỏi.
– Suýt soát!- Chú Tư buồn rầu trả lời.
Xe chậm rãi lăn bánh, hai bên đường gần như bụi cây nào cũng có côn trùng kêu, tiếng kêu đơn điệu buồn thảm, con trâu cái của chú Tư vấp một cái suýt ngã, mặt đất bung lên một cụm sương nhỏ, tiếng động nặng nề vọng lại từ phương nam, rất xa, mặt đường rung chuyển.
– Tàu hoả!-Chú Tư nói.
– Chú Tư đã đi tàu hoả chưa? – Cao Dương hỏi.
– Nói như anh nói, loại người như chúng ta có được ngồi lên đó không? – Chú Tư nói – Đợi kiếp sau đầu thai vào cửa nhà quan hẵng ngồi. Kiếp này chỉ đứng xa mà ngó!
– Con cũng chưa đi lần nào – Cao Dương nói – Nếu trời phù hộ năm nào cũng trồng được tỏi thì năm năm nữa, con sẽ dành ra một trăm đồng ngồi tàu hỏa, ăn cơm tây, đi đó đi đây một chuyến, không uổng khoát tấm da người trên mình.
– Anh còn trẻ, còn cơ may – Chú Tư nói.
– May gì nữa hả chú? Con người ta, qua ba mươi là đã quá nửa đời người, qua năm mươi vùi thân trong đất. Con hơn anh Cả nhà chú một tuổi, bốn mươi mốt rồi, đất vùi đến ngực rồi!
– Người tính một đời, cây tính theo năm, trèo cây bắt sẻ, xuống mương mò cá, tưởng mới như ngày hôm qua. Vậy mà thoáng cái, sắp chết rồi?
– Sáu mươi tư. Sáu bốn, bảy ba, Diêm vương không gọi cũng đi xa. Nhiều khả năng là không được ăn cơm mới cuối năm!
– Chẳng chuyện gì đâu! Chú Tư còn chắc lắm, sống mươi năm cũng không thành vấn đề – Cao Dương an ủi.
– Anh đừng an ủi tui, tui không sợ chết, sống không niềm vui, thà chết cho xong! Chết, Nhà nước đỡ tốn một suất lương thực – Chú Tư vừa cười vừa nói.
– Chú không chết, nhà nước cũng không tốn lương thực! Lương thực do chú làm ra, đâu có ăn của Nhà nước – Cao Dương nói.
Vầng trăng chui vào đám mây màu xám, cây cối bên đường nhòe đi. Trời tối lại làm cho đám côn trùng trong các bụi cây kêu to lên.
– Chú Tư, Cao Mã được đấy chú ạ, gả Kim Cúc cho nó là chú có con mắt tinh đời – Cao Dương buột miệng nói, anh lập tức thấy mình lỡ miệng. Anh nghe thấy tiếng thở nặng nề của chú Tư, vội đánh trống lảng – Chú Tư, chú có nghe chuyện thằng Ba nhà bà lão Gấu thôn Chuồng Dê thi đỗ đại học ở Mỹ? Ở Mỹ một năm, nó lấy một cô vợ Mỹ tóc vàng mắt xanh, có ảnh gửi về nhà, lão Gấu gặp ai cũng khoe.
– Mã tổ nhà nó kết rồi! – Ông Tư nói.
Cao Dương nghĩ đến mộ mẹ. Đó là khu đất cao ráo, bắc giáp con sông nhỏ, đông giáp con mương lớn, nam nhìn mãi tận núi Chu Bé, tây là cánh đồng Bình Xuyên rộng mênh mông. Anh lại nghĩ đến thằng con trai vừa sinh được hai ngày. Thằng đó mới lọt lòng mà cái đầu lại to tướng. Mình kiếp này như gạch đã ra lò, định hình rồi, không thay đổi được nữa. Mảnh đất đắc địa của mẹ có lẽ sẽ phát bởi thằng cháu, thằng nhỏ chẳng biết có ăn thua gì không?
Một chiếc máy kéo đèn pha sáng trưng, ầm ầm vượt lên, trên xe ngồng tỏi chất cao như núi. Cả hai giục trâu và lừa đi mau, không chuyện ngẫu nữa.
Khi vừng hồng vừa nhô lên, xe của họ đã tới gần đường sắt. Lúc này, đã có mấy chục máy kéo đến trước họ, toàn là xe kéo tỏi.
Họ bị một chiếc sào bằng gỗ sơn hai màu đen trắng chặn lại mạn bắc đường sắt. Xếp hàng rồng rắn sau xe bọn họ là những xe trâu, xe lừa, xe ngựa, xe ba gác, xe đẩy tay, máy kéo, ô tô, tỏi của bốn xã đều chuyển về huyện, quang cảnh rõ là được mùa. Mặt trời nhô lên nửa mặt, đỏ đến nỗi có quầng khí đen quẩn quanh, lên đến nửa con sào, ánh nắng trùm lên đám mây trắng hình cái lọng, nửa dưới đám mây nhuộm màu đỏ nhạt. Bốn thanh ray nằm theo hướng đông tây, một đoàn tàu sơn xanh phụt khói trắng, tiếng còi rung chuyển mặt đất, từ hướng tây chạy tới, từng toa xe lướt qua, cửa sổ thấp thoáng những khuôn mặt béo tròn của những con người thượng đẳng.
Một người đàn ông đứng tuổi cầm lá cờ nhỏ hai màu xanh đỏ đứng trước thanh chắn. Anh ta cũng có khuôn mặt béo bự. Những người thượng đẳng ăn cơm đường sắt đều béo tốt như vậy sao? Cao Dương nghĩ thầm. Tàu hỏa chạy qua, mặt đất run rẩy. Còi tàu xé màng nhĩ, con lừa sợ đến nỗi toàn thân cứng đờ. Cao Dương bỏ tay bịt mắt lừa, anh trông thấy nhân viên đường sắt quay tay gạt nâng thanh chắn lên. Thanh chắn chưa yên vị, xe cộ đã tranh thủ ào ạt tiếng qua, đường hẹp, chỉ chạy song song được hai xe. Cao Dương giương mắt nhìn những xe đẩy, xe đạp lách qua bên cạnh xe anh và xe chú Tư. Qua đường sắt là một con dốc lớn, đường dốc đang sửa, đá hộc đá răm lởm chởm, đất thó và cát vàng từng đống. Xe lắc dữ dội khi lên dốc, tất cả những người đánh xe đều nhảy xuống ghìm chặt dây cương khống chế xe.
Chú Tư vẫn dẫn đầu. Cao Dương trông thấy người ông bốc hơi, mặt đem như trôn chảo, tay trái giữ thừng, tay phải cầm roi, miệng sùy sùy, ông vung roi nhưng không vụt. Con nghé hoa dướn cổ, miệng sùi bọt, thở phì phò. Có lẽ rất đau vì vấp phải đá hộc, con trâu vổng lưng hằn rõ xương sống như con rắn.
Lúc này, một mặt trời đỏ, hai đám mây hồng rách bươm, là cảnh sắc trên trời; một con đường lởm chởm, hàng vạn xe chở tỏi là quang cảnh mặt đất. Cao Dương chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng lớn lao như thế, anh hơi ngợp. Anh không dám nhìn hai bên, mắt như bắt vít vào chỗ lồi sau gáy ông Tư. Con lừa đi như múa, một hòn đá nhọn đâm bị thương chân trước nó, chỗ lõm giữa móng guốc và móng phụ, máu rỏ giọt trên những tảng đá. Càng xe lắc con lừa lúc dạt sang trái, lúc dạt sang phải. Cao Dương thương con lừa nhưng anh không giúp được gì, trái lại, giục nó đi một cách tàn nhẫn. Xe sau cắn đuôi xe trước, xe trước cắn đuôi xe trước nữa, không một ai dám trùng trình, chỉ sợ những tay rắn mặt, chen ngang.
Anh nghe thấy bên trái có tiếng nổ như lựu đạn, cả người lẫn lừa đều giật mình. Ngoảnh sang, một xe đẩy nổ lốp, săm đỏ lồi ra lốp đen. Kéo xe là hai cô gái, một lớn tuổi, một trẻ. Cô lớn đầu tròn xoay, mặt đầy nếp nhăn như vỏ cây. Cô trẻ da trắng nõn, mặt trái xoan, chỉ tiếc hỏng một mắt. Cao Dương thở dài: Đúng như Khấu mù đã nói: Điêu Thuyền là tuyệt sắc giai nhân mà trên mặt lại có bảy nốp ruồi, vậy đấy, chẳng ai mười phân vẹn mười cả! Hai cô gái chẳng biết làm thế nào với cái lốp thủng, phía sau giục giã, chửi bới. Hai cô đành đẩy xe ra bãi bùn phía ven đường. Các xe phía sau lập tức lấp chỗ trống.
Lại thêm mấy lốp xe nổ liên tiếp, trong đó, có một tiếng đinh tai nhức óc. Đó là chiếc máy kéo năm mươi sức ngựa nổ lốp sau, vành xẹp sát mặt đất, xe nghiêng về một bên. Mấy người ăn mặt có vẻ cán bộ đứng bần thần trước lốp xe vỡ, lái xe – một thanh niên mặt đầy dầu mỡ, vặn vẹo hai bàn tay hộ pháp, lớn tiếng đ. mẹ Cục Quản lí giao thông.
Lên hết dốc dài, lại xuống dốc dài. Xuống dốc cũng vẫn đường như thế, đá hộc lởm chởm, tiếng lốp nổ râm ran, giao thông ách tắc. Cao Dương thầm khấn, lại trời cho xe anh đừng nổ lốp.
Hết dốc là con đường trải nhựa chạy theo hướng đông tây, ngã tư không có đèn xanh đỏ, một đám mặc thường phục màu xám, đội mũ lưỡi trai, đứng ở đó. Đoạn đường phía tây có xe chở tỏi, các xe chở tỏi từ đường phía nam cũng rùng rùng kéo lên. Hỏi ông Tư, anh mới biết huyện đã lắp đặt một kho lạnh ở phía đông, thảo nào các xe đều quay về hết phía đông sau khi chạy lên đường nhựa.
Sau khi lách lên con đường nhựa theo hướng đông tây đi khoảng vài trăm mét thì bị kẹt cứng, không nhích lên được. Lúc này, những người mặt đồng phục xám, cắp cặp đen đi tới trước mặt. Căn cứ vào phù hiệu trước ngực, anh biết đó là nhân viên trạm quản lí giao thông.
Theo kinh nghiệm xưa cũ, đối thủ của quản lí giao thông là xe cơ giới, vì vậy khi một nhân viên quản lí giao thông trẻ cắp cặp đen đứng trước mặt, anh vẫn tưởng mình là người ngoài cuộc, lại còn nở một cười ngây ngô với anh ta.
Nhân viên thu phí dùng bút bi viết biên lai đưa cho anh: “Nộp một đồng!”
Anh tròn mắt, hồi lâu không hiểu ra sao. Anh ta giơ biên lai lên vẫy vẫy: “Nộp một đồng!”
– Tiền gì? – Cao Dương hỏi.
– Phí quản lí giao thông – Anh nhân viên nói.
– Xe tui là xe lừa – Anh nói.
– Xe đẩy tay cũng phải nộp.
Anh nói: “Đồng chí, tui không có tiền, vợ tui mới sinh, tiêu hết rồi”
– Nộp nhanh lên, nếu không có cái này… Anh ta rung tờ biên lai – Không có biên lai này, Hợp Cung tiêu sẽ không thu mua tỏi của anh.
– Quả thực không có tiền – Cao Dương lộn trái túi ra – Anh xem, không có đồng nào.
– Vậy thì nộp ngồng tỏi! Ba cân! – Nhân viên thu phí nói.
– Ba cân ngồng tỏi là ba đồng, đồng chí!
– Anh sợ thiệt thì nộp bằng tiền.
– Sao anh bắt bí người ta thế?
– Ai bắt bí anh? Anh tưởng tui thích lắm hả? Đây là qui định của Nhà nước.
– Nếu là qui định của Nhà nước thì anh lấy đi!
Nhân viên thu phí cầm bó ngồng tỏi quẳng vào cái sọt to tướng phía sau, dúi tờ hoá đơn đóng dấu đỏ chói vào tay anh, khênh sọt là hai đứa choai choai, béo ục ịch.
Nhân viên thu phí lại yêu cầu ông Tư nộp tiền. Ông Tư thò tay vào tận lần lót, lấy ra hai tờ năm hào đưa cho anh ta. Ông Tư cũng nhận được tờ biên lai có dấu đỏ chói.
Cái sọt to tướng đã sắp đầy, hai đứa trẻ ì ạch khênh đến trạm. Phía sau trạm có một xe tải lớn, hai người đàn ông mặc áo trắng, hai tay khoanh trước ngực đứng tựa tấm chắn hậu, có vẻ dân khuân vác.
Chí ít có hai mươi nhân viên cắp cặp đen hoạt động. Một nhân viên mặc gi lê đỏ cãi nhau với người thu phí. Cậu này không văn hoa, mở miệng là nói tục: “Đồ mặt l.! Các người còn dữ hơn cả Quốc Dân Đảng!” Nhân viên thu phí đánh cậu ta một bạt tai, cú đánh nhanh như chớp, gọn, bình tĩnh, khi đánh mặt không đổi sắc.
– Anh dám đánh người à? – Thanh niên mặc áo đỏ gào lên.
– Đánh còn là nhẹ – Nhân viên nọ mặt lạnh như tiền – Chửi nữa xem nào?
Thanh niên áo đỏ lao về phía nhân viên nọ, hai người đứng tuổi giữ lại. Thắng Lợi, thôi đi! Bảo nộp thì nộp, nói ít thôi! Hai cảnh sát mặc áo trắng ngồi xổm dưới gốc cây ngồi hút thuốc.
Cao Dương nghĩ thế, mà là chửi người? Cái ông nhân viên ấy không chui từ l. ra thì chui từ lỗ đít ra hẳn? Câu nói thật vẫn là câu khó nghe. Anh mừng rằng anh không va vấp gì với ông thu phí, nhưng cứ nghĩ bó ngồng mơm mởm, anh lại tiếc đứt ruột. Anh lại thở dài. Thở dài được một cái, trong lòng đỡ đau.
Bây giờ là nửa buổi, xe của Cao Dương vẫn không nhích lên được một bước. Đoạn đường đi về hướng đông, xe đen kịt, đoạn đường phía tây, xe cũng đen kịt. Hỏi chú Tư, anh được biết trạm thu mua – kho lạnh, cách đây ba dặm về phía đông. Ở đó người la ngựa hí, chẳng khác vùng sủi cảo khi bật vung. Cao Dương muốn đi xem, nhưng không dám bỏ chỗ.
Cao Dương hơi đói, anh lấy ra cái gói trên xe xuống, mở gói lấy ra cái bánh tráng kép, một nửa cây dưa muối. Anh mời chú Tư, chú bảo không ăn, anh cũng không mời thật, liền một miếng bánh một miếng dưa, bắt đầu ăn. Ăn được nửa chừng, anh lại rút năm ngồng tỏi trên xe, bụng nghĩ: Coi như bị nhân viên thu phí lấy hơn năm ngồng. Ngồng tỏi vừa ròn vừa ngọt, ăn với bánh thật tuyệt.
Đang ăn, lại có vị mặc đồng phục, mũ lưỡi trai, đứng trước mặt. Anh hết hồn vội đưa cái biên lai ra, nói: “Thưa đồng chí, tui nộp rồi!”
Vị này cầm tờ biên lai liếc qua, nói: “Đây là của trạm thu phí giao thông. Tôi là sở giao dịch công thương. Nộp đi, hai đồng, thuế giao dịch công thương.”
Cao Dương đã hơi tức: “Tui chưa bán được ngồng mà!”
Cán bộ thuế công thương nói: “Đợi bán xong tỏi, anh đã chạy mất tiêu rồi!”
– Tui không có tiền! – Cao Dương cáu.
– Tui bảo này – Cán bộ công thương nói – Không có biên lai hoàn thuế, trạm không thu mua tỏi của anh đâu!
Cao Dương đấu dịu: “Đồng chí, quả thực tui không có tiền”
– Không tiền thì nộp năm cân.
Cao Dương choáng người, chỉ chực khóc. “Đồng chí, chỉ có mấy cân tỏi mà ông Cột ba cân, ông Kèo năm cân thì còn được mấy nỗi! Vợ con tui đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, được mấy cân tỏi đâu có dễ?”
Cán bộ thuế tỏ ra thông cảm: “Anh tiến hành giao dịch công thương thì anh phải nộp thuế công thương, đó là chính sách của nhà nước.”
– Đã là chính sách của Nhà nước thì tùy đồng chí, có giết, tui cũng không chống lại. – Cao Dương lẩm bẩm.
Cán bộ thuế công thương quẳng bó ngồng vào cái sọt to tướng phía sau, khênh sọt cũng là hai đứa choai choai, béo ục ịch như ông phỗng!
Trông thấy bó ngồng lộn một vòng rơi xuống sọt, mũi anh cay sè, nước mắt ứa ra.
Giữa trưa nắng gắt, người và lừa lử đi. Con lừa ị hơn chục cục phân ra đường. Một vị mặc đồng phục màu xám, mũ lưỡi trai bước tới, đưa cho anh tờ biên lai màu trắng: “Phạt hai đồng, tôi là trạm Bảo vệ môi trường”. Lại một vị mũ lưỡi trai, đồng phục trắng, xé biên lai đưa cho anh: “Phạt hai đồng, tôi là trạm Kiểm dịch Y tế.”
Anh đứng như trời trồng trước hai cán bộ môi trường và y tế, thở không ra hơi: “Không có tiền, các ông lấy ngồng tỏi!”
Lúc gần tối xe anh và xe chú Tư mới tiếp cận được Trạm thu mua – Kho lạnh. Ngoài cửa kho đặt hai chiếc cân, ngồi trông cân là hai vị mặt xám tro. Một vị mặc đồng phục đi lại xung quanh hai vị. Trông thấy người mặt đồng phục, sống lưng Cao Dương lạnh toát.
– Cuối cùng rồi cũng đến! – Chú Tư thở phào.
– Thì cũng phải đến chứ! – Anh cũng nói.
Người báo cân xướng số cân một cách khô khan, dùng bút bi ghi trên biên lai năm liên.
Tiếp theo là đến chú Tư. Trông thấy chú Tư nôn nao, anh cũng trống ngực đánh thình thịch. Khi trông thấy ông cán bộ nghiệm thu hàng, tim anh càng đập dữ.
Một vị cầm loa điện, đứng trên chiếc bàn sơn đỏ, gọi: “Bà con nông dân bán tỏi chú ý, kho lạnh tạm thời dừng thu mua tỏi, khi nào tiếp tục, chúng tôi sẽ báo cho Hợp cung tiêu của xã, họ sẽ thông báo các vị!”
Cao Dương như bị giáng một gậy vào đầu. Anh choáng, phải bám lưng lừa mới khỏi ngã.
Chú Tư nói: “Không thu mua nữa? Đến lượt tui thì không thu mua nữa? Từ nửa đêm đến giờ, tui đợi chẵn một ngày!”
– Bà con bán tỏi, về đi! Đợi vài hôm chúng tôi dồn chỗ xong, sẽ báo các vị.
– Tui nhà xa năm mươi cây số, đồng chí ơi!… – Chú Tư nài nỉ.
Người báo cân cầm bàn tính đưa lên.
– Đồng chí, tui đã nộp thuế công thương, phí quản lí giao thông…
– Các vị giữ lấy biên lai, lần sau vẫn dùng được! Bà con trồng tỏi, về đi! Nhân viên kho lạnh ngày đêm chịu đựng gian khổ, đợt tỏi nhập kho xong, lại thu mua tiếp… – Nhân viên cầm loa lải nhải.
Những người ngồi phía sau ùa lên gào, thét, chửi, mắng…
Người cầm loa nhảy vội xuống đất, rạp người mà chạy.
Cửa sắt kho lạnh đóng lại.
Một thanh niên mặt đen như trôn chảo nhảy qua chiếc bàn sơn đỏ, hét to: “Đ. mẹ nó, làm cái gì cũng phải đi cổng sau! Lên đài hóa thân cũng phải đi cổng sau, huống hồ bán tỏi! – Anh ta nhảy xuống mất hút trong tỏi.”
Một thanh niên mặt đầy trứng cá nhảy lên bàn, chửi rất to: “Kho lạnh, tao đ. chết tươi mẹ mày!”
Đám nông dân cười ồ.
Một người tháo móc cân ném thẳng vào cổng xếp nhà kho đánh choang một tiếng.
Đám người xông lên hất đổ cân, đập nát chiếc bàn ghi cân. Một ông lão đi từ nhà kho ra, nói: “Các người nổi loạn rồi!”
– Nện cho thằng già một trận! Con nó là thằng Lưu Rỗ ở cục Công thương. Thằng này trông kho mà lương tháng một trăm đấy.
– Đánh đánh đánh! Một đám ùa vào chỗ cửa sắt, nện thình thình.
Cao Dương nói: “Chú Tư, ta về thôi! Không bán được tỏi cũng không sao, đừng chuốc lấy hoạ vào người!”
Chú Tư nói: “ Tui chỉ muốn đập phá một trận cho đỡ tức!”
Cao Dương nói: “Đi thôi, chú! Cứ hướng đông mà đi, ta sẽ vành ra bắc đường sắt.”
Ông Tư quay đầu xe, cho đi về hướng đông, Cao Dương cũng dắt lừa bám sau xe ông.
Đi được nửa dặm, hai người ngoái đầu nhìn lại, một đống lửa to đùng trước kho lạnh, một người đỏ như lửa gỡ tấm biển của kho lạnh ném vào lửa. Cao Dương bảo chú Tư: “Kho lạnh không gọi là kho lạnh, lại gọi là kho bảo ôn, cái biển ấy viết thế.” Chú Tư nói: “Kho gì thì kệ mẹ nó, đốt béng đi!”
Họ còn trông thấy cửa kho bị phá, đám đông ùa vào trong sân. Lửa bay phần phật, từ xa thấy mặt người đỏ bừng, Họ nghe thấy tiếng gào thét nổi lên từng đợt và tiếng kính vỡ.
Một chiếc xe sơn đen “con ba ba” từ phía đông chạy tới. Cao Dương hốt hoảng kêu:“Quan to đến rồi!”
Chiếc xe con dừng lại trước đống lửa, mấy người chui ra khỏi xe, lập tức bị đẩy xuống rãnh, có người cầm gậy cứ nhè ô tô mà nện thình thình, có người cầm thanh củi đang cháy nhét vào bung xe.
– Về mau, chú Tư! Về mau! – Cao Dương giục.
Chú Tư cũng sợ, vụt con trâu một roi.
Họ đi miết, khi nghe thấy một tiếng nổ long trời, cả hai ngoái lại: Một cột lửa cao hơn tầm nóc nhà bùng lên, soi tỏ xung quanh đến mấy dặm!
Cao Dương không thể nói là anh mừng hay sợ. Anh có thể nghe thấy tiếng tim mình đập, mồ hôi nhơm nhớp trong lòng bàn tay.
Họ đi vòng ra khỏi huyện lỵ, vượt qua đường sắt, không hiểu chú Tư ra sao, riêng Cao Dương cảm thấy thoải mái như từ hang hùm nọc rắn trở về. Chú ý một tí, vẫn còn nghe tiếng reo hò từ kho lạnh.
Đi theo hướng bắc vài dặm nghe thấy tiếng máy chạy bằng đầu điêzen và tiếng nước chảy ào ào, một ngọn đèn vàng vọt để ở chỗ phát ra tiếng máy. Nghe tiếng nước chảy cơn khát đến khô cổ của Cao Dương trở nên không chịu nổi, chú Tư thì suốt một ngày đằng đẳng không bén một miếng cơm, một giọt nước, không thể không khát. Anh nói: “Chú Tư, trông dùm con cái xe, con ra mạn đông kiếm ít nước, con lừa của con và con trâu nhà chú cũng phải cho chúng uống, còn mấy chục dặm nữa chứ ít gì!”
Chú Tư im lặng họ dừng trâu lại, dạt xe qua bên đường.
Cao Dương xách chiếc thùng sắt tây lấy từ trên xe xuống. Anh tìm thấy một con đường mòn vừa lọt bàn chân, hai bên đường là những cây ngô cao tầm đầu gối, lá ngô quẹt vào hai chân anh và chiếc thùng xách ở tay. Ánh đèn leo lét, nhìn mà ước lượng chỉ hai tầm tên bắn, vậy mà tiếp cận rất vất vả. Tiếng máy bơm và tiếng nước chảy trước sau vẫn to như thế, nhưng hình như không bao giờ có thể đến gần. Con đường có lúc biến mất, anh đi vào ruộng, thận trọng đặt từng bước để không dẫm hoa màu. Tuy đi giày, nhưng anh vẫn cảm nhận đất đai gần huyện lỵ tốt hơn đất quê anh, nơi có thể coi là vùng sâu vùng xa. Con đường mòn lại hiện ra, đi thêm dài bước nó bỗng rộng ra rất nhiều, gượng ép một tí, có thể đi được xe ngựa. Hai bên đường có rãnh nông, bên ngoài rãnh là hoa màu cao thấp không đều, anh ngửi thấy mùi bông, lạc, ngô và cao lương, chúng có mùi hoàn toàn riêng biệt, trộn không lẫn.
Chiếc đèn bão bổng sáng lên. Tiếng máy bơm và tiếng nước chảy cũng rộ lên. Lúc này, anh nhìn rõ bóng của anh, anh cảm thấy ngài ngại.
Đi đến chỗ treo đèn bão – Đèn treo trên một chiếc gậy cắm thẳng góc với mặt đất, cái máy 12 mã lực chạy bằng đầu điêzen được cố định bằng bốn chiếc cọc đóng trên mặt đường, bánh đà tít tưởng như không chạy, chỉ ở chỗ nối dây cu roa bằng móc kim loại chạy loang loáng, người ta mới biết máy đang vận hành. Mặt đất trải một tấm ni lông, bên cạnh để một đôi dép nhựa. Không có ai lên tiếng, anh cố nhìn vào bóng đêm, mũi ngửi thấy mùi lá ngô non.
– Ai đấy? – Có tiếng hỏi trong bóng đêm.
– Tui là người qua đường đi kiếm nước uống. – Anh trả lời.
Lá ngô kêu sột soạt, một người đàn ông cao lớn vai vác xẻng bước ra vùng sáng. Anh đứng trước máy bơm, giơ chân trước cột nước rất mạnh để rửa sạch bùn. Rửa xong chân, anh lại rửa sạch bùn bám trên xẻng. Chiếc xẻng bóng loáng.
Người ấy nhảy qua rãnh, cắm xẻng xuống đất, nói: “Anh cứ uống, no thì thôi!”
Cao Dương chạy đến bên máy bơm, vội vã vụt đầu uống, nước chảy quá mạnh, môi anh tê đi, ngực đau thắt. Uống no, anh rửa mặt, lấy đầy một thùng tôn, xách trở lại chỗ đèn bão.
Người kia nhìn anh từ đầu đến chân, anh cũng thế, nhìn người kia từ đầu đến chân.
Đây là một thanh niên cao ráo, mặc sơ mi cụt tay, quần đồng phục, chiếc đồng hồ sáng loáng đeo ở thắt lưng.
Anh gỡ đồng hồ, đeo vào cổ tay. Anh nhìn đồng hồ, hỏi: “Anh đi đâu về mà muộn thế?”
Cao Dương nói: “Tui đi bán tỏi, cả ngày không được ngụm nước, nghe tiếng máy đi tìm”.
– Anh người thôn nào?
– Thôn Cao Đồn – Cao Dương nói.
– Chao ôi, thế thì xa lắm, xã anh chưa đặt trạm thu mua à?
– Hợp cung tiêu chúng tôi không quan tâm chuyện này, họ bận chuyện buôn bán phân hóa học.
Người thanh niên cười: “Chuyện ấy cũng bình thường. Tất cả vì tiền mà! Bán được chưa?”
Cao Dương nói: “Chưa , xếp hàng đến nơi thì người ta bảo là kho đã đầy, tạm dừng thu mua. Nếu họ chỉ hoãn đến mai thì tôi ở lại một đêm, đằng này không biết đến đời địa nào mới cân tiếp?”
Anh vốn không định kể, nhưng không kìm được, buột miệng nói: “Trên ấy rách chuyện rồi, cân bị đập, bàn bị đốt, kính vỡ hết, ngay cả xe “ba ba” cũng bị đốt.
Chàng thanh niên có vẻ phấn khởi: “Anh bảo là nổi loạn à?”
– Nổi loạn hay không thì tui không biết, có điều, loạn thật sự rồi! Anh thở dài – Quả thật có một số người táo gan, không sợ chết.
Chàng thanh niên nói: “Bố tui và anh hai cũng đi bán tỏi, không biết họ có tham gia không?”
Cao Dương nhìn hàm răng đều đặn trắng tinh của chành thanh niên, nghe giọng Bắc Kinh cố giấu mà vẫn lộ: “Ông anh này, tôi thấy ông anh không phải người thường!”
Chàng thanh niên nói: “Tui là bộ đội người thường nhất!”
– Anh rất được, sướng thế mà còn về làm lụng giúp người già, riêng chuyện này cũng thấy anh sẽ tiến xa. Anh không mất gốc!
Chàng thanh niên móc bao thuốc, dưới đèn, cái võ đẹp như một bông hoa. Anh ta rút một điếu đưa cho Cao Dương. Cao dương nói: “Tui không hút thuốc, nhưng tui có người hàng xóm đang đợi tui trên đường, tui xin điếu này cho ông ấy. Cả đời ông chưa bao giờ được hút loại cao cấp như thuốc này!”
Cao Dương cài điếu thuốc lên vành tai, xách thùng nước ra, theo đường cũ trở ra.
Ra đến đường cái, chú Tư tỏ vẻ không vui: “Lấy nước ở tận biển đông à?”
Con lừa của anh đứng yên như phỗng. Con trâu của chú Tư nằm dưới đất cùng với xe.
– Chú uống trước đi! Còn bao nhiêu cho chúng uống.
Chú Tư sục miệng vào thùng, uống kỳ no. Đứng dậy, chú nấc cục. Cao Dương lấy điếu thuốc trên vành tai xuống đưa cho chú, nói: “Gặp một người cao cấp, anh ta bảo anh ta là bộ đội, thoáng nhìn con cũng biết anh ta là sĩ quan. Anh ta cho con thuốc, con bảo con không biết hút, con bảo chú biết, lấy về cho chú.”
Chú Tư cầm điếu thuốc đưa lên mũi ngửi, nói: “Cũng không thơm lắm!”
Cao Dương nói: “Làm quan rồi mà vẫn làm lụng giúp người già, không đơn giản! Thời buổi này, người ta ăn cháo đá bát, như thằng Vương Thái thôn mình ấy, nó trông thấy con như thấy người lạ!”
– Chú uống đủ chưa? – Cao Dương hỏi – Vậy con cho trâu uống.
Chú Tư nói: “Cho con lừa uống trước. Con trâu nhà tui không nhai lại, có lẽ nó ốm. Trong bụng nó có một con nghé. Nếu như tỏi không bán được, trâu lại hỏng thì tui chết mất!”
Con lừa ngửi thấy mùi nước, khịt khịt mũi. Cao Dương vẫn cho con trâu chú Tư uống trước. Con trâu định đứng lên nhưng không nổi, chú Tư nâng càng xe, giúp nó đứng lên . Con trâu ánh mắt dài dại. Cao Dương lùa thùng vào dưới mõm, nó chỉ uống vài ngụm rồi ngẩng đầu lên, đưa lưỡi liếm môi liếm mũi.
Cao Dương hỏi: “Sao nó uống ít thế?”
Chú Tư nói: “Con trâu này sành miệng lắm, bà Tư vẫn phải cho cám tinh vào nước để dụ nó uống.”
– Sướng quen rồi, trâu cũng làm nũng! Nghĩ lại mấy năm về trước, người còn không có cám mà ăn, nói gì trâu!
– Anh cho con lừa uống đi, đừng ca cẩm nữa!
Con lừa đã cuống lên, nó vục đầu vào thùng uống một hơi cạn sạch, rồi lắc lắc cái đầu, tỏ ý chưa đã.
Chú Tư nói: “Trâu bò uống nước lạnh xong phải bắt đi nhanh để ra mồ hôi, nếu không là ốm!”
– Chú Tư, con trâu này chú tậu bao nhiêu?
– Chín trăm ba mươi đồng, đấy là chưa kể thuế.
– Đắt quá nhỉ! – Cao Dương tặc lưỡi – Hơn chín trăm, dán kín mình trâu đấy!
– Tiền mất giá rồi- Chú Tư nói – Nửa năm, thịt lợn tăng chín hào! Hay dở gì thì một năm cũng khó mua nổi vài cân thịt!
– Chú Tư, chú vẫn kiếm ra tiền. Con trâu này mỗi năm đẻ một con, nếu là cái, coi như ăn không con mẹ. Nuôi trâu hơn trồng tỏi.
– Anh tính mới ngon lành làm sao? – Chú Tư nói – Thế trâu uống gió bấc mà sống à? Thế không ăn cỏ, không cám bã?
Đêm càng khuya, họ không nói chuyện nữa. Xe trâu, xe lừa lắc lư như mộng du. Cao Dương quả thực hơi buồn ngủ, thương cao lừa thì thương, anh vẫn leo lên càng xe, tựa lưng vào dóng ngang, mi mắt nặng trĩu, Anh cố cưỡng lại cơn buồn ngủ. Lại phải đi vào hoang mạc, những lùm cây lúp súp hai bên đường vẫn như hôm qua, có đều trăng chưa lên, cành lá không đóm sáng. Những con cuốc, giun dế, những côn trùng biết kêu thì cũng như hôm qua, ra rả không ngừng.
Lên dốc, con lừa bị thở phì phò như người bị bệnh suyễn. Anh nhảy xuống xe, con lừa thở nhẹ đi. Chú Tư vẫn ngồi trên xe, kệ cho con trâu đang chửa loay hoay vượt dốc. Cao Dương lạnh người cảm thấy chú Tư là con người tàn nhẫn. Anh tự nhủ, sau này không chơi với loại người như thế.
Lên được nửa dốc, mặt trăng đang nhô lên từ rất xa ở phương đông. Anh biết, theo qui luật, giờ này muộn hơn một chút so với hôm qua, mặt trăng bé hơn một chút so với hôm qua. Trăng vàng vọt, hơi đỏ. Có màu vàng nhạt, hồng hồng, nhờn nhợt, đùng đục, mệt mỏi, ngái ngủ, hơi nhỏ so với hôm qua, đầy hơn so với mảnh trăng hơn qua. Ánh trăng ngắn và yếu, không soi tới cồn cát, những lùm cây và con đường rải nhựa. Anh vỗ lưng lừa, bánh xe chậm lăn, trục xe khô dầu kêu kít kít. Chú Tư có lúc bật ra một câu hát rất lưu manh rồi đột nhiên thì ngừng bặt, khi hát không chuẩn bị, khi dừng thì cụt lủn. Thực ra, ánh trăng vẫn chiếu tới đây, chẳng lẽ ánh trăng lấp lánh không phải do ánh trăng sao? Những đốt sáng lấp lánh trên cánh con cuốc, không phải ánh trăng sao? Vị hăng của tỏi, không phải do ánh tăng nồng nàn mà có sao? Đầm trũng có sương mù, đồi cao có gió mát, chú Tư cất tiếng chửi – Không hiểu chú chửi trâu hay chửi người: “Cái đồ đĩ rạc, đồ chó! Kéo quần lên… lại đọc thánh kinh!”
Anh khóc dở khi trông thấy hai luồng ánh sáng từ trên đỉnh dốc dọi xuống, lúc cao lúc thấp, lúc sang phải lúc sang trái như kéo cắt vải cao su. Tiếp đó là tiếng động cơ. Cây cỏ hai bên đường rõ mồn một. Một con báo đốm cụp đuôi lẩn vào bóng đêm. Con lừa toát mồ hôi, Cao Dương ôm chặt lấy đầu nó, dạt xe tận mép đường. Ánh đèn biến con trâu của chú Tư nhỏ như con thỏ. Chú Tư cũng nhảy xuống xe, nắm mũi trâu dắt cùng với xe sang vệ đường.
Ánh đèn sáng lóa, con thú lớn đen sì giương mắt chồm tới, ngay cả con báo cũng sợ bỏ chạy, huống hồ con trâu con lừa. Chuyện xảy ra sau đó như trò đùa, như nằm mơ, như cứt ỉa.
Cao Dương còn nhờ chiếc xe như một quả núi chồm tới. Trong tiếng máy gầm gào, con trâu chú Tư, cái xe của chú Tư, ngồng tỏi của chú Tư và cả chú Tư đều bị bóng đen nuốt chửng. Anh mở mắt, thấy một khuôn mặt béo bệu của một người đứng tuổi cười mỉm sau tấm kính, và sau tấm kính khác, một cái miệng há hốc, răng trắng nhởn. Anh và con lừa nằm rạp ngay sau xe, trước ống xả nóng rẫy.
Anh nhớ chiếc xe ô tô từ từ bò dậy, con trâu của chú Tư kinh hoảng kêu lên, chú Tư ôm lấy đầu con trâu thật chặt. Trong làn sáng trắng, cái đầu của chú Tư như nhỏ lại, biến thành cái vòi bằng đồng, bằng gang, lóe lên màu vàng màu xanh, chú Tư nheo mắt. Chú Tư há miệng, nét mặt thất thần, sắc mặt thê thảm. Luồng sáng xuyên thấu vành tai thỏ của chú Tư, thanh chắn của ô tô thúc vào chân chú Tư và chân con trâu, người chú Tư nhào về phía trước và bắn tung lên, hai tay xòe như đôi cánh, áo tả tơi như lông vũ, rơi xuống một bụi bạch lạp. Con trâu gục xuống, đầu ngoẹo sang một bên. Chiếc ô tô từ từ tiến lên, lúc đầu đủn trâu và xe đi một đoạn, sau đó là chèn dưới bụng.
Sau đó thì thế nào? Sau đó, ông béo ngồi trong xe nói: “Chạy mau!” Tên tài xế gầy nhom cho xe lùi, không nhúc nhích, cứ lùi, lùi được,vòng qua Cao Dương và con lừa, chạy xuống dốc. Nước văng tung tóe, két nước vỡ.
Cao Dương ôm đầu lừa, đầu anh như mụ đi: “Thế là thế nào? Chuyện gì đã xảy ra?” Anh sờ đầu mình, mắt mũi mồm miệng tóc tai còn đủ cả. Sờ đầu con lừa, cũng vậy, chẳng thiếu cái gì, chỉ mỗi hai tai lạnh như băng. Anh khóc hu hu như một đứa trẻ

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả