Tàu đến

Tác giả:

Kìa xem!
Tàu Tiệp Khắc màu đen, Dân chủ Đức màu xanh, Ba Lan sắc trắng
Tưởng đến đây, mỗi con cá kình kia ngàn vạn tấn
Đã phải bơi qua những bể sắc màu riêng
Ru-ma-ni, Bun-ga-ri kề nhau như chị như em
Hắc hải gửi cho ta những con tàu đồng tuổi lứa
Tàu Mông Cổ thân yêu về đây ngủ ngon trên sóng Bạch Đằng
Nhớ thảo nguyên lấy sóng này làm bãi cỏ
Tàu Trung Quốc một bên, một bên là Liên Xô, Mông Cổ nằm ở giữa
Như trên bản đồ ta đã nằm quen
Trung Quốc! Anh đem tiếng hát Tân Cương của bạn trồng nho say lòng người thợ mỏ
Những người công nhân Hoa kiều Phúc Kiến, Quảng Đông chào đời mới vừa lên trong nước cũ
Và khi sàn tàu Liên Xô bừng điện vũ
Thì trong cuộc đời thường, ai dễ chịu nằm yên?
Mỗi hòn than đều muốn thành ngọn lửa
Mỗi vật nhìn như lạ lại như quen…
Chào các tàu! Chào anh em
(Chào cả những người xa lạ
Đây là chỗ bán buôn, nên ta dễ dãi tâm hồn)
Kìa, mang nỗi buồn Glê-dốt đi xa
Tàu Hy Lạp có nghe chăng tiếng thét trên các tầng than đòi song tù A-ten mở cửa?
Tàu Nhật Bổn mặt trời từ nay không mọc lên trên vải nữa rồi
Ki-si sụp đổ!
Và tàu Pháp há mồm
Nhưng cờ đỏ sao vàng hải quân chẹn cổ
Há mồm mà chẳng dám ăn ai!

Trăm con tàu đến từ trăm xứ sở
Đến đây bảo ta rằng: Ta đang làm chủ
Sóng trăm bãi lạ bờ xa theo tàu về vỗ xứ than này
Châu Á, châu Âu như đem đất mình dịch lại nơi đây
Nhớ ngày mới tiếp quản năm nao
Vắng ngắt các bến tàu
“Gia tài” bại trận Pháp để cho ta như thế đấy!
Than ế ẩm chửa ai mua, ứ đọng nằm chết dài trên các bến
Chỉ có đàn én gặp đàn hải âu
Con sò thăm con hến
Chỉ có trời xanh chen bọt trắng
Xác sứa, xác tôm phơi đầy sau mỗi ngấn thủy triều…
Lác đác đã có đuốc soi cua của đôi người xưa lên tầng mà nay quay ra bể
Thiếu một chút kiên tâm, trong ám ảnh đói nghèo!
Tay poóc-tích cứng đờ dáng sắt, vì đã lâu sắt không còn cử động
Dây cần trục đưa tay bắt bóng mình dưới sóng
Rừng than già trong đất uể oải ngủ giấc ngủ rừng uể oải
Hình như không muốn vội thành than!
Vạn tấn nghìn tấn những con tàu trùng dương không lại nữa
Ai mua chi than vắt nắm quả bàng
(Chà! Còn cả cái vòng vây chiến lược bằng súng bằng vàng của Mỹ)
Thuyền mành, chỉ có thuyền mành buồm nâu thân gỗ
Như cái cò lặn lội bờ sông, chở than đi bán trong các xóm các làng qua bữa
Cho người thổi cơm trong bếp cơm con!
Trăm chuyến thuyền đi vẫn không mòn được núi than dài ế ẩm
Bờ bể đìu hiu lại quá đìu hiu
Thuyền đi rồi! Ở đây chỉ còn sóng bạc mỉa mây trời
Và núi than dài mỉa nắng!
“Tiền rừng bể bạc thế kia ư? Tổ quốc ta giàu đẹp thế kia ư?”
Đã thấy ló bàn tay gián điệp, phòng nhì phá hoại
Đã thấy đùn mây đen ở chỗ biếc chân trời
Đã thấy mủ cương lên ở nơi hồng sắc máu
Đã thấy chất cường toan rót chỗ chúng ta cười

***

Con tàu đầu tiên là chính kẻ ta mong
Liên Xô, con tàu của Đảng!…
Anh mở đường đi cho bao kẻ đi cùng
Vòng vây chiến lược bằng súng bằng vàng chân tàu anh đã xé
Vịnh Hạ Long in những bóng cờ hồng
Lũ lượt những con tàu trở lại
Như người tình nhân xưa cũ trở về
“Anh thèm ăn chất than em ấm nóng”
Nhớ từ sóng Hạ Long xanh biếc
Nhớ mùi hương hoa đại nhớ đi…
Nhớ mùa phượng ve ca theo sắc nắng
Nhớ phố phường xứ biển khói than che!
Nhưng than – nhớ nhất là than than đứng, than nằm,
than ngủ, than đi, than duỗi, than co, từng núi dài,
vỉa dài, không ai ngăn sức nổi!
Than béo, than gầy – mỡ màng như mỡ đông – như thịt đúc
Như miếng giò ngon, như đĩa xôi ngon
Như mật ong đen – như phù sa đen – từng mảng, từng tầng xén cắt…
Ôi! những nhà máy phương xa đà quen mỉệng xứ than này
Dù ăn trăm xứ than khác lạ lùng hơn, than của đất này không bỏ được
Trời xám châu Âu hay trời mờ Nhật Bổn
Đã từng quen trên mái xưởng, khói Hòn Gai…
Nói chi! Nói chi! Sau mười năm! Những con tàu còn muốn
thấy cỏ hoa và con người của một miền anh dũng
Những con người rót máu để nuôi than!
Chất than sẽ lên vinh quang như vòng hoa lao động che đầu người lao động
Chất than thơm một mùi hương sực nức
Dẫu còn mồ hôi, nhưng không còn nước mắt – không còn mùi mồ hôi nước mắt lầm than!

***

Sung sướng nhất vẫn là chào các anh các chị
Tàu phe ta! Than của chính phe ta!
Tàu đồng chí ăn miếng than đồng chí!
Cay đắng biết bao năm, mới có lúc bây giờ!
Chất than đây như chất máu vùng nhiệt đới
Nhiều hồng huyết cầu – nhiều ánh nắng – nhiều máu lửa mười năm chiến đấu
Sẽ làm nhà máy Vôn-ga hay Đa-nuýp
Điện hồng lên như trái tim hồng!
Cỏ non chờ anh! Đất ấm chờ anh! Quả thanh mai và
cành hoa sim núi chờ anh, hỡi người thuỷ thủ!
Cởi giầy ra cho chân anh dẫm lấy cỏ xanh non
Có phải đất này từ lúc nhân dân ta làm chủ
Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ
Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn!
Anh áp tai vào mặt đất
Không cần có lỗ tai của nhà triết học
Cũng có thể nghe cuộc đời đi, lịch sử đang đi!
Tiếng dân tộc tôi từ ngày áo nâu chân đất
Nay đang thúc những con tàu, lái những guồng xe
Hay anh chỉ làm người yêu, làm nhà thi sĩ
Nghe cái dậy thì của than
Cái hổn hển của rừng
Cái dạt dào của bể
Cửa kho tàng đang mở
Sự sống giàu đang căng…
Những cái ấy cũng làm nên lịch sử…
Trái đào nào sinh ra, không vì miệng của người ăn?
Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (do Vũ Thị Thường sưu tập và biên soạn)

Thảo luận cho bài: "Tàu đến"

Tìm theo tác giả