Tiếc Gì Một Chút Hương Xuân Muộn

Tác giả:

MỘT

Năm Thuật dựng một căn chòi và lập miếng vườn nhỏ ở sát cánh đồng tràm. Ba bốn năm, ngó lại chưa thấy huê lợi nào đáng kể. Cái thứ dễ trồng nhứt là khoai mì, mà hễ cây lên cao tới thắt lưng là lá bắt đầu vàng khè rồi dường như càng ngày càng thấp xuống. Người ta giải thích rằng tại đất còn phèn nhiều quá. Năm Thuật cũng biết như vậy, mà cứ ráng. Có mấy tháng nắng, nhắn thằng cháu vô tính mượn nó tiếp sức móc cái mương dài cắt ngang đám bòng bong, từ cây Tràm gãy ra tới suối cạn, mà năm lần bảy lượt, nó cứ hẹn ít bữa, ít bữa… Rốt cuộc, trời vừa trở mùa, nghe nó với mấy thằng bạn cướp ghe người ta vượt biên mất biệt. Đống tràm con, Năm Thuật tính dành để đóng cừ còn nằm chình ình đó, cả năm nay rồi.

Những bữa trăng non mới mọc, Năm Thuật ưa bắt cái ghế đẩu đằng trước sân, ngồi ngó xung quanh, suy nghĩ vẩn vơ mà thấy buồn buồn. Điều làm chú ấm ức nhứt là cái sức khỏe của chú càng lúc càng mất đi, mau hơn chú tưởng. Chưa đầy năm mươi mà hễ cứ độ chừng hai chục cuốc, là phải ngừng lại, thở dốc. Hồi đầu, mới vô đây, sau mấy tháng càu nhàu về việc người này người kia giành giựt với chú những vùng đất tốt hơn và phân chia không đều ngay cả khoảng đất ọp ẹp này, chú ráng bỏ qua hết mọi chuyện, bắt tay vào việc.

"Thì cũng có ai đâu, ngó chung quanh, quen biết hết mà! Năm Thuật nghĩ, thời này, phần đông ai cũng là gia đình cách mạng. Mình giữ phận mình, chắc ăn hơn. Ở đời, có ba cái vô tư, trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, nhựt nguyệt không soi sáng riêng ai. Cái việc tranh giành, phân bì là sự xấu, đừng có màng tới. Miễn người ta để yên cho mình, là được…"

Hết mùa thứ nhứt, Năm Thuật mơ hồ cảm thấy cho dù người ta có để yên cho mình, chưa chắc rằng với cái sức lực còm cõi còn lại sau một lần mổ ruột và hơn mười năm làm phu khuân vác bến tàu, mình có thể tự tạo một cuộc sống yên ổn được. Lâu lâu, ngồi dựa ngửa bên một gốc tràm, vấn điếu thuốc rê bự, bập bập, hớp ngụm nước trà, Năm Thuật nhớ và tiếc cái thời "thầy Năm Hiến Binh" với sức trai và cặp giò săn cứng mỗi buổi chiều quần thảo, làm chủ tình hình sân vận động quận.

"Cái thằng Nhược này, hồi đó mầy còn nhỏ biết cái chó gì. Người ta nói với nhau, chiều nay ra sân banh coi ông Hiến Binh đá banh. Người ta nói với nhau đội Hà Tiên có hai tay dữ dằn nhứt đi cặp làm mưa làm gió cả tỉnh, tới quận mình, đụng ông Hiến Binh là quờ quạng liền. Người ta nói với nhau, ông Hiến Binh xin đổi đi, ông Quận không cho. Mầy biết không, có lần ông Quận, để coi, ông Quận Trung phải nói, gần tới ngày về tỉnh tranh giải, chú Năm nó phải ăn, phải ngủ cho có chừng mực… Mầy biết không, hồi lúc tao lặn hào bị đứt chưn không đá banh được chiều chiều ra sân coi thử, vắng hoe…"

Năm Thuật ít nói, mà hễ nói là nói tới chuyện những ngày chú còn trẻ. Hồi thằng Nhược cho hay miếng đất chú đút đơn xin khẩn cập chưn núi Suối Đá không được huyện chấp nhận vì "chú Năm biết không, chủ tịch xã có phê, thành phần không thích hợp với loại đất." Năm Thuật chỉ chép miệng:

– Thì thôi!

Nhưng một hồi rồi chú cũng thở dài:

– Giá tỉ như hồi tao còn làm Hiến Binh, ông Quận không chấp thuận chắc tao cũng không xin xỏ, năn nỉ gì đâu. Kệ!

Cho tới khi đi coi miếng đất được nhà nước cứu xét và tự ý phân phối về, Năm Thuật vừa co chưn đá vô chưn bàn vừa nói với thằng Nhược:

– Tao dư sức phá miếng đất đó. Hồi trước, chục cây số tao đi bộ một hơi một. Rồi lúc sau này, thấy không, bao gạo chỉ xanh để trên vai tao coi như không có. Đồ ba cái thứ rễ bòng bong, mây nước đó mà, đâu có qua tao nỗi…

Bây giờ là mùa mưa thứ tư rồi. Đất vẫn còn phèn và sát đằng sau vách chòi, hai bụi mây nước cháy đen thui chưa lấy gốc. Mùa mưa, xung quanh đó, những đọt mây non chồi đầu lên, một tuần lễ mà không cắt cỏ, gai cứng lại, vô ý mà đi, cọ ngang một cái, tuôn máu như chơi. Năm Thuật dù có thấy chướng mắt cỡ nào cũng phải chịu thua. "Thứ gì mà rễ nó bện lại thành lớp, thành lớp như bao bố tời. Cuốc xuống một cái, nó dội ngược trở lên, tức ngực."

Trong đám khoai mì, ngó lơ ít lâu là bòng bong nó quấn lên tới đọt. Năm Thuật mới đầu còn cặm cụi soi, móc từng dây, riết rồi bỏ liều luôn. Có điều, Năm Thuật bỏ mà cứ nghĩ tới hoài.

Nhiều khi, chính Năm Thuật cũng biết như vậy là tự mình làm khổ mình, mà rồi gần như cái tật, hễ nghĩ tới đám khoai mì là thấy bực bực trong người. Chú nói với thằng Nhược, năm ngoái:

– Hết lứa này, dứt mùa mưa, lớn nhỏ gì tao cũng giỡ đám khoai rồi cuốc lại. Lần này thì phải ít nhứt là ba lưỡi… thử coi nó còn lú lên nổi không cho biết.

Thằng Nhược hứa nhăng hứa cuội rằng sẽ "tiếp với chú, không phải chỉ đám đằng trước đó thôi, mà còn dài ra tới bờ mương chú dự định đào xong trong vòng mấy tháng nắng này…" Rồi thằng Nhược vượt biên, rồi Năm Thuật bỏ cuộc một cách dễ dàng một phần vì chán ngán cho chính mình.

Bữa nay gió bấc thổi già quá. Ngoài bìa vườn, những tàn tràm xum xê cành lá, nghiêng hết về con suối cạn. Nghe kỹ, có tiếng rít nhỏ mà cao vun vút, buồn quá. Gần tết rồi. Cả một con đường mòn dài từ bìa lộ vô, bông Da heo nở tím lịm. Trong này ngó ra, Năm Thuật có cảm tưởng như ngày nào, lâu rồi, ngồi dước gốc nhìn ngược những bực thang đất, đường lên chùa Sư Muôn. "Ừ, gần tết, sim đã có đợt chín, mà cũng có đợt vừa mới trổ bông. Hồi đó, mình đâu có còn nhỏ gì, ngó người ta, từng cặp, từng cặp, vừa bẻ sim mà vừa cười nói, um sùm, cũng thấy vui…"

Thêm một cái tết nữa không có thằng Nhược, chắc Năm Thuật buồn không thua gì năm ngoái. "Có nó, đánh cờ tướng sáng đêm cũng không thấy buồn ngủ. Không lẽ lội bộ ngược ra xóm, xa, mà cũng chẳng vui vẻ gì…" Tự nhiên, Năm Thuật nhớ thằng Nhược quá.

"Cái thằng! Làm biếng, chưa có ai làm biếng qua nó được." Nhiều khi, chú ngó một chút rồi tự hỏi, thằng này như vầy thì làm sao mà sống được qua thời buổi này. Vậy mà nó vẫn phây phây, mới kỳ.

Hồi lúc hết thẩy những tiệm cà phê đều phải tạm ngừng bán để chuẩn bị cho việc thành lập các cửa hàng quốc doanh, thằng Nhược mất tiêu luôn cái nghề chạy bàn, cực chẳng đã, nó mới chịu nương thân, ăn nhờ ở đậu trong căn chòi ba vách của Năm Thuật mà theo nó, nó cho là một chỗ "chán chưa từng thấy" trong đời nó. Thấy chú làm việc mệt nhọc, có lúc làm như nó mắc cỡ, ráng ra phụ được một chút, rồi kiếm chuyện này chuyện nọ, lủi mất. Mọi thứ, mọi việc nó đều có đủ lý lẽ để nói, nhưng ít khi nó chịu làm. Bữa nào vui vui, ngồi nghỉ xả hơi, thấy nó đứng chắp tay sau đít ngó ra ở đâu xa xa, chú kiếm chuyện nói, vì nghĩ rằng nó khoái nói chuyện. Mà thằng Nhược khoái thiệt.

"Nè, sao tự nhiên đám đậu phọng èo uột quá mà có một chỗ này xanh lè, lá nào lá nấy bự muốn gấp đôi… kỳ quá mầy, Nhược!"

"Chú Năm không nhớ là hồi trước, chỗ này chú để đống phân bò hay sao? Phân bò là phân tốt hạng nhứt mà, thứ gì cũng chịu nó hết. Mát, mà lại sốp đất. Cái thứ đất phèn này, phải cần nó cho nhiều mới được. Đáng lẽ mình phải chịu khó quẩy ky đi dọc dọc theo con lộ từ phi trường vô trong này, mỗi ngày ít nhứt cũng được hai gánh… Mà điều, để chú coi, vậy mà chỗ đó hột đậu lép xẹp. Người ta nói xấu dây mới tốt củ mà… Thứ đậu phọng này chịu phân tro lắm nghe chú Năm. Đáng lẽ mỗi buổi chiều, mình phải gom gom một ít đám cỏ mục lại đốt một đống ung, vừa vui mà vừa có thêm chút phân. Ở vườn, chiều mà có đống ung, khói nó bay cà chậm, cà chậm, thiệt, buồn cũng thành vui…"

Chuyện gì thằng Nhược nói cũng xuôi. Năm Thuật tưởng tượng thằng này mà chịu gánh hai cái ky không đi dọc dọc theo đường lộ, cũng là điều lạ rồi, nói chi tới chuyện nó vừa đi vừa cúi cúi cào phân bò vô ky, chắc trời sập. Năm bẩy ngày đầu lúc mới vô đây, thấy chú đốt cỏ, nó cũng ngồi một bên, cầm cây chọt chọt cầm chừng, nói chuyện người này với người kia chửi lộn, nói chuyện thằng nào đó ăn cắp đồ bị bắt, lên tới công an mà còn chối, nói đủ thứ chuyện. Chưa bao giờ chú thấy nó tự động đi ôm cỏ về mà gầy một đống ung ra làm sao. Vậy mà nó nói… Đáng lẽ, đáng lẽ…

Có một luống mía, trồng cùng lúc với mấy luống kia, mà sao cây lên lưa thưa, chỉ bằng phân nửa mấy luống khác. Thằng Nhược lại giải thích:

– Tui chắc hồi gạch mương để đặt ngọn xuống, luống này chú gạch sâu hơn mấy luống khác. Cái ngọn, chú đặt đứng quá, hai ba mắc nó mới lên một mục, chớ mấy. Nhưng mà chú coi, nó ít thành ra nó tốt hơn mấy luống khác thấy không. Đầy đủ phân mà… Nó còn lớn nữa đó nghe. Mấy luống kia cây nào cây nấy nổi mốc trắng hết rồi đó, vậy mà nó còn xanh dờn nghe. Đáng lẽ mới hết mưa như vầy, mình chịu khó đi từng luống giựt bỏ lá héo, cây nó mới mập được…

Mỗi lần như vậy, Năm Thuật gật gù, rồi "hèn gì… hèn gì…" cho qua chuyện. "Nghe nó nói, cũng đỡ buồn!"

"Không biết hồi này nó ra làm sao rồi. Để coi, ngày mai con Nhu đem cái thơ vô, nó nói với mình cái gì."

Trời tối, Năm Thuật trở vô chòi ngồi chồm hổm chụm lửa nấu nước trà. Bỏ tràm khô bốc cháy bừng bừng, mau tàn quá, chú phải ngồi luôn ở đó. Vậy mà qua ánh lửa, chú cười mỉm chi, không biết chú nghĩ tới cái miệng bép xép không thua gì thằng em con Nhu, nghĩ tới những lời kẽ cà trật cà vuột trong thư thằng Nhược, hay nghĩ tới cái réchaud nhập cảng đốt bằng dầu lửa của ông thư ký quận tặng "thầy Năm Hiến Binh" nhân cái dịp gần tết như vầy, năm nào.

HAI

Năm Thuật múa xong đường quyền rồi mà cũng chưa chịu ngồi xuống, hai tay vẫn giữ nguyên cái thế nắm, để ngang thắt lưng, ngước mặt lên trời thở nhè nhẹ. Một chút, chú chắt lưỡi:

– Mười lần thì bị hết tám chín lần, kỳ thiệt!

Con Nhu đỡ lời:

– Chắc tại lâu rồi chú không dợt lại, tay chân yếu đi. Theo lẽ cái hồi nhảy ngược về đàng sau, chú nên đứng thẳng lên rồi hãy nhảy. Như vậy chắc vững hơn…

Năm Thuật bước tới vài bước, ngồi xuống cạnh con Nhu, vừa đưa tay vuốt ngược đầu tóc, vừa thở dài:

– Có lần tao cũng nghĩ như vậy, mà không phải như vậy. Xuống Trảo mã là phải xuống nhanh cấp kỳ như vậy mới phải. Thế đó không phải là thế công, cũng không phải là thế thủ, mà là một thế chuyển kín đáo nhứt. Chuyển để thủ mà cũng chuyển để công… vậy mới kỳ. Để tới lúc phân thế ra, mầy mới thấy được. Cái nghề, người ta đã tính từng chút, từng chút. Tao mà xuống Trảo mã đúng cái lúc đó rồi, mầy đâu có biết tao sẽ lui nữa hay phóng ngược tới, phải không? Một lát tới phiên mầy, mầy thử đứng lên rồi mới nhảy lui, mầy sẽ thấy hở nhiều chỗ lắm. Giả tỷ, nháy con mắt một cái, tao chúi mình sát lại mầy, một tay gạt lên đầu đánh nhá hơi, một tay thoi vô bụng. Mầy nhảy về Trảo mã chưa kịp thì muốn khỏi mất thăng bằng, phải dùng cả hai tay mà gạt ra, tao sẽ nương theo đà ngã, lật giò đó một cái thốc trở lên là mầy bể be sườn liền, chịu gì nổi, muốn thử không?

Năm Thuật say sưa nói trong khi con Nhu im lặng, nghĩ tới bộ dạng chậm chạp, mất thăng bằng của chú mà tự dưng đâm ra chán chường. "ổng cầm ở lại thêm một ngày, nhứt định dạy cho được đường quyền, mà đâu có biết mình không muốn học chút nào. Người dạy cho dầu có tận tâm cách mấy mà người học như trả nợ quỷ thần, làm sao cho khá được. Đã vậy, "ông thầy" lâu lâu, múa một hồi rồi tự nhiên quay qua than thân trách phận, nghe mà phá chán theo."

Con Nhu liếc qua Năm Thuật. Dưới ánh trăng mờ mờ, nó thấy mồ hôi bóng loáng vừng trán nhăn nheo như của một ông già sáu bảy chục tuổi. Tự dưng, nó thấy buồn buồn, quay nhìn về hướng hàng tràm bìa rừng. Trăng sáng, mà yên tịnh quá. Tháng Chạp rồi mà trời còn trong vắt. Ở hướng Nam, chòm sao Thánh giá nhấp nháy.

– Để tui vô bắt ấm nước, pha trà uống nghe chú Năm.

Con Nhu không chờ Năm Thuật trả lời, nó vừa nói vừa nhỏm dậy, dứt câu thì đã đứng hẳn lên rồi. Bộ dạng của nó cũng có vẻ thiểu não ghê lắm.

Khi cái áo bà ba nâu bạc thếch vừa khuất vô vách chòi. Năm Thuật đứng dậy, quờ tay làm lại cái thế chặt phựt ngang cổ một địch thủ tưởng tượng rồi dùn chân xuống câu tay hất ngược cùi chỏ trở lên và không cần chụm chân lại, nghiêng người nhảy ra đàng sau, chân trái trước, chân phải sau. Chú múa thiệt chậm, vậy mà tới lúc xuống tấn, cũng lại xiêu xiêu.

Năm Thuật chắc lưỡi, đứng dậy, đi thẳng vô chòi.

Ầm nước đang lên tiêm, nghe ồ ồ. Con Nhu nhụi thêm vô lò một nhúm vỏ tràm rồi quay qua Năm Thuật:

– Sao hồi trước chú Năm không dạy cho thằng Nhược. Nó có sức hơn tui, mà lại sáng dạ. Chắc học lẹ lắm…

Năm Thuật ngồi lên sạp, quay mặt phun nước miếng cái bẹp:

– Thằng đó thì có ăn, chớ nó học nỗi gì.
– Vậy chớ chú thấy tui làm sao? Cà quơ cà quơ, chú không chán sao? Mà tay chân thì yếu xìu…
– Mầy thấy học được thì học, còn không thì thôi, tao đâu có ép.

Năm Thuật nói lẫy rồi! Con Nhu im lặng hốt một nhúm trà bỏ vô bình, nghiêng ấm châm nước sôi vô, kéo cái ghế đẩu để giữa chòi, đặt bình trà lên rồi cúi mình xuống rổ chén lấy ra hai cái. Hồi lâu, nó nói nhỏ giọng:

– Tui định trong bụng cận ngày tết, đem bánh tét vô cho chú rồi tui mới nói. Thôi sẵn đây tui nói cho chú nghe luôn… Vợ chồng tui tính đi bữa hăm chín. Anh Bồng thẻ mực bữa đó là bữa chót, khuya ảnh tấp vô bãi đón. Xuồng nhỏ lắm thành ra đâu có dám cho ai hay. Chỉ có thêm tui với con Sen, em của ảnh… Chú tính làm sao… cho tụi con biết, tụi con liệu…

Con Nhu nói tới đó thì ngập ngừng, cúi mặt ngó xuống. Nó không thấy Năm Thuật đang giương hai con mắt thò lỏ ngó nó chập chạm. Hai người đều im lặng.

Cho tới khi Năm Thuật bật lửa xoèn xoẹt đốt thuốc hút, con Nhu nói tiếp:

– Tụi tui tính kỹ, bữa đó, công an nó không nghĩ là mình vượt biên đâu. Còn có một ngày nữa là tết mà… Gói bánh tét đem theo cũng có cái cớ. Anh Bồng ảnh nói, ảnh chèo cao tay lắm là ba ngày thì cũng ra được tới lằn quốc tế. Chừng đó thiếu gì tàu…

Năm Thuật bập bập điếu thuốc:

– Ừ, biển lúc này êm láng như trong sông…

Con Nhu mạnh dạn hỏi:

– Chú có đi không, chú Năm?

Năm Thuật im lặng, dựa ngửa xuống sạp, mơ màng nhả khói thuốc. Con Nhu chắc có ý để chú suy nghĩ nên bước xuống đất, đi lững thững ra ngoài sân. Nó có vẻ bình thản, quơ chân mạnh một cái, lá khô bị động, kêu xào xào. Năm Thuật ngước nhìn theo bóng nó, thở nhè nhẹ.

"Chuyện này không phải chuyện chơi đâu nghe, trật một cái là ân hận. Để coi, ở lại, lây lất rồi cũng hết một đời. Cái thứ mình, qua xứ người sống được không? Tiếng tây tiếng u không biết, làm nặng không nổi… Để coi, miếng đất mình bây giờ thiệt thì cũng không có gì, sát nhập vô nông trường cũng có sao đâu, chỉ tiếc một chút công lao, mấy năm nay… Chà, còn những cái vướng vít nho nhỏ, làm sao cho yên. Thằng Nhược đi khỏi rồi mà lại muốn về là tại làm sao? Như nó còn khá, tới phiên mình không biết ra làm sao đâu. Mà sao tụi nó lại lựa ngày tết ngày nhất này để đi, thiệt ai mà ngờ được… Tụi nó còn trẻ… Đáng lẽ lúc sau này, mình trở về quê ngó lại giòng họ bà con rồi mới tính tới được. Khó lòng quá…"

Năm Thuật đã bước xuống đất, chú dựa lưng vô cột chòi, thọc hai tay vô túi áo, ngó ra rừng. Con Nhu đang ngồi chỗ đám sả, thấy chú ra, nó quay lại:

– Để sáng tui tỉa bớt đám sả này gánh về chợ đếm lại cho người ta. Ba cái thứ lắt nhắt này chắc không bị thu mua đâu, hén chú Năm?

– Ừ, mà mầy tỉa nhiều quá, thằng Ngạn trưởng xóm nó biết, nó hỏi lòng vòng khó lòng lắm. Nó ở cách đây bốn năm cây số mà tao trồng cái gì, nó cũng biết hết. Cái nào tốt, cái nào xấu nó cũng biết…

Rồi Năm Thuật quay trở vô. Con Nhu cũng đứng dậy, bước theo. Năm Thuật ngửa cổ uống một hơi hết chén trà rồi đưa tay quẹt miệng, quay qua hỏi chậm:

– Sao tụi bây không để tới ra giêng?

Con Nhu nín thinh.

– Ý tao chưa quyết, mà điều tao hỏi cho biết vậy thôi. Như tụi bây… như tao… bỏ xứ sở vô tới trong này, có bỏ nữa cũng vậy… Mà đi, xứ người ta, làm sao… Tao, thiệt, nghĩ hoài không ra…

Năm Thuật có vẻ xúc động lắm nên hết nói nữa thì ngồi ịch xuống sạp. Con Nhu rót nước trà vô cái chén chú vừa uống cạn:

– Tui với anh Bồng cũng biết như vậy, mà rồi chú thấy không… Riết rồi có đủ thứ chuyện kẹt cứng. Ảnh nói, để dây dưa hoài có khi mình hết đường xoay sở thì chừng đó ân hận lắm… Thằng Nhược nó nói xách nói mé trong thơ, chứ chú cũng biết thì dù sao bên đó, đỡ hơn bên này nhiều thứ lắm…

Con Nhu dần dừ thêm một hồi, ngó qua chỗ khác, nói tiếp:

– Con mắt mờ của chú, qua bên đó người ta trị, ba mươi giây hết liền, rồi tui biết chắc sức khỏe của chú cũng vậy, thuốc men người ta đầy đủ mà, chú lo gì… Qua đó, chú muốn đi đâu chú đi, không ai dám cản… Thằng Nhược, mới qua hai ba tháng, nó biết đủ thứ chuyện, chú không thấy sao…

Năm Thuật đưa tay chà chà bên con mắt mờ. Đã mười mấy năm rồi, tuy nó lâu lâu có làm chú xốn xang chút ít nhưng nhờ nó, từ sau cái thời Hiến Binh được dẹp bỏ, người ta cho chú về làm ăn khỏi phải đi đánh giặc…

– Chà, chà. Con Nhu nói như một sự cố gắng, lần cuối. Thằng Nhược nó nói ở bên đó mà người ta còn nhập cảng lá tre khô cho người Việt mình để dành gói bánh tét nữa đó nghe chú Năm…

Năm Thuật im lặng hồi lâu, rồi thở dài nằm xuống, nói khỏa lấp:

– Bánh tét thì phải gói bằng lá tre tươi, mà luộc thì phải luộc bằng củi, mới ngon, mới bùi được, phải không mậy, Nhu?

Con Nhu dường như không để ý đến câu nói, nó gắng gượng kéo Năm Thuật về câu chuyện đang bỏ dở:

– Mai tui về chợ, có gì chú ra chú cho vợ chồng tui hay. Ý tụi tui là như vậy, tụi tui thương chú lắm, nghe chú Năm…

Không nghe Năm Thuật trả lời, con Nhu kéo dài giọng:

– Chú tiếc gì mấy ngày tết, chú Năm ơi…

Năm Thuật im lặng, trong bóng tối chú ngẫm nghĩ: "Biết nó đi, ráng dạy cho nó đường quyền, nó không chịu học, thì thôi!" Rồi chú ráng nằm thiệt im, làm bộ ngủ, nhứt định quên hết mọi chuyện.

Võ Hoàng
(trích Nhân Văn, số 22, Xuân Giáp Tý, 1984)

Thảo luận cho bài: "Tiếc Gì Một Chút Hương Xuân Muộn"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả