Tiếng Đá

Tác giả:

Gió từ phía Tây thổi về Nghệ An, ùa cơn nóng đến độ chó ngậm hơi không sủa, trâu bò uể oải nằm dài, rớt dãi chẩy trắng mép. Đến nửa đêm, gió mới mang lại một chút hơi lạnh của núi và tiếng xào xạc của rừng lá rạc vây bủa trại Bùi Phong. Căn nhà ba trái nằm yên ả dưới rặng chèm. Tiếng võng thỉnh thoảng kẽo kẹt nhịp cho tiếng quạt phành phạch phẩy gió. Loài chim gì bay ngang, quàng quạc kêu, làm vỡ bấy bề ngoài êm đềm một đêm nồm ngột ngạt. Lửa đóm lóe lên trong nhà, hắt qua khe liếp những vệt sáng đỏ đục. Tiếng rít thuốc lào sằng sặc, rồi tiếng chân sột soạt ra mở then cửạ Nguyễn Thiếp ra đứng, ngửa mặt nhìn trờị Ánh trăng chếch mầu xanh huyển hoặc lùa trên những lùm cây chập chờn nhẩy múạ 

Trước khi gia đình họ Nguyễn ở Nguyệt Ao lên lập trại cuối năm ngoái, khoảng đất bằng phẳng rộng độ hai mẫu ta đất này chỉ toàn là rạc. Lá rạc nhọn, sắc, tua tủa chĩa ra như lông nhím. Tiếng rằng Nguyễn là người sành thuật phong thủy, thiên hạ đồn đãi rằng chỏm Bùi Phong ở phía đông ngọn Lạp Đính trong rặng Thiên Nhận là nơi có mạch rồng. Để mả ở đó, con cháu đời sau sẽ phát đế phát vương. Thế là nghe đâu có vài kẻ cùng một lúc lên quan kiện, ai cũng đưa từ chứng rằng đó là đất của tổ tiên mình. Nhưng chuyện kiện cáo không đến nỗi nhì nhằng. Ở vào những năm cuối cùng đời chúa Trịnh Doanh, từ chứng có thể mua bằng tiền, giá thường chỉ bằng giá một đôi gà. Vả lại, miệt Hải Dương có giặc Nguyễn Hữu Cầu (1), và ngay tại hai trấn Thanh-Nghệ này, Nguyễn Diên mời được Hoàng tôn Lê Duy Mật (2) kéo cờ tôn phù vua Lê dấy binh chống chúa Trịnh. Trong cảnh loạn lạc, quan huyện La Sơn tìm cách khu sử cho thật gọn. Coi chỏm Bùi Phong là công thổ, quan để cho người đồng liêu họ Nguyễn vừa mới nhậm chức huấn đạo ở Anh Đô mua lạị 

Thuở Hiến sát sứ Nguyễn Hành thụ bệnh qua đời ở Thái Nguyên cách đây mười lăm năm, nỗi đau xót người chú đã nuôi mình ăn học khiến Nguyễn mắc chứng cuồng dĩ. Nhẩy xuống ruộng bùn huyện Kim Hoa nằm mê man ba ngày, Nguyễn may được người xã Do Nhân mang về nuôi cả tháng, sau mới tìm đường về được nhà. Ba ngày trước, tức là đúng vào ngày mùng tám tuần trăng thứ sáu, Nguyễn lại lên cơn động kinh. Đang phạt cỏ tranh bới đất trồng thêm chục gốc chè, Nguyễn bỗng ngã vật ra, chân tay co quắp, miệng méo xệch, người giật lên như đỉa phải vôị Nguyễn muốn kêu nhưng cổ tắc lại, nước dãi đặc sệt phòi ra từng vũng sùi bọt trắng. Nguyễn ngửng mặt nhìn lên trời: mây đùn lên, bay vùn vụt, bỗng nhiên đổi mầu thành mây bẩy sắc, ráng tía ngày càng chói lọi đến lóa mắt. Trên cao, vô số khuôn mặt từ phương Nam bay lại, sà xuống, mặt người có, mặt ma mặt quỉ có, mặt Thánh mặt Phật cũng có, lúc thì nhe nanh nhe vuốt như chực cắn xé, lúc lại bi thương đại lượng nhỏ nước mắt từ bị Đột nhiên, một vùng đất nổi lên cao, chung quanh là rừng núi, một đàn voi xông ra, dẫn đầu là một con voi trắng đầu như đầu rồng. Mấy chục con voi lồng lên trong cát bụi mịt mù rượt đuổi một đàn ngựa, con chạy về phương Nam, con giạt về phương Bắc. Tiếng cồng nổi lên nghe đinh tai nhức óc, lẫn vào đó là tiếng tù và, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng kim khí chát chúa choạng vào nhau, rồi tiếng rên la, tiếng van vỉ, tiếng kêu khóc, tiếng chửi rủạ Nguyễn cố xoay người về phía trái, tì tay vào một mô cỏ vừa càọ Mặt trời rát bỏng xối xuống từng chậu lửa sánh sệt, làm cho đống cỏ tranh mới cắt cháy bùng lên. Cháy! cháy! cháy rừng! Nguyễn hả miệng hớp lấy chút không khí mỗi lúc một ngột ngạt, cố đến độ cổ họng bung ra thành tiếng "chạy! chạy đi!" rồi lịm đi trong lớp sóng lửa vỗ sôi lên giữa một cái vạc dầu đang từ từ nhận chìm cả nhân loạị 

Khi Nguyễn mở mắt ra, trời đã tối mịt. Ánh đèn dầu hắt bóng Đặng thị lên vách mới trát còn ngan ngát mùi đất ẩm. Nguyễn thều thào gọi vợ. Đặng thị cúi xuống xốc cho Nguyễn ngồi lên, giọng nửa mừng nửa tủi: 

"Mấy năm nay tưởng yên rồi, nay đột nhiên thầy nó lại ngã bệnh." 

Nguyễn gượng cườị 

"Thầy nói, thầy kêu, rồi lại khóc nữạ" 

"Nói gì?" 

"Thầy bảo bây giờ là thời mạt pháp!" 

"Còn kêu gì?" 

Đặng thị im lặng một chặp, ngập ngừng: 

"Thầy kêu nhiều lắm, khó nhớ hết được. Có lúc thầy vừa khóc vừa bảo đến thánh thần cũng hư huống chi là ngườị.." 

Đặng thị lắc đầu, kéo tấm chăn đơn đắp lên chân Nguyễn, nhỏ nhẹ: 

"Thầy nó uống cho tôi bát thuốc này đã, uống cho hạ cơn xuống đêm naỵ" 

Nguyễn từ tốn nâng bát thuốc do một người bạn nổi tiếng danh y bốc chọ Từng ngụm thuốc đắng chát trôi qua như đốt cổ họng, song vào đến bụng thì lại thành mát rượị Nguyễn đặt bát thuốc lên cái ghế đẩu kê cạnh giường, nhớ lại ngày nào họ Lê bắt mạch cho mình trên chùa Hương Tích, nửa đùa nửa thật cười bảo "… chẳng biết Cuồng ẩn đó hay Lãn ông này sẽ tạo nghiệp để phải giây vào đám bụi bậm dưới kiạ" Nguyễn với tay lấy bình nước chè, nhưng mất thăng bằng, ngã chúi xuống chân giường, miệng thở hổn hển. Bóng đèn hắt bóng Đặng thị lên vách, hấp tấp đang xốc Nguyễn lên. Lúc sau, bấc đèn khêu nhỏ lại khiến cái bóng khổng lồ ngả dài ra rồi biến mất. 

Từ hôm Nguyễn lên cơn động kinh, cứ chập choạng tối là Đặng thị bắt cả ba đứa con đi ngủ sớm. Hai đứa lớn biết nghe, nhưng Thúc Khải mới chập chững biết đi lâu lâu lại khóc đêm đòi mẹ. Bấy giờ đã canh hai, trăng lưỡi liềm đang ngả về phía tây rặng Thiên Nhận. Trại Bùi Phong mơ hồ lẫn vào giấc ngủ chập chờn trong đêm mùa hạ. Tiếng ếch nhái ven con suối cạnh nhà oang oác, phụ họa vào những âm thanh rỉ rả của đủ loại côn trùng than van cơn nóng bức hừng hực chưng bằng lửa địa ngục. Đặng thị thỉnh thoảng lại phe phẩy quạt cho Thúc Khảị Giường bên kia, tiếng trẻ ú ớ nói mệ Bước vào nhà, Nguyễn đặt mình xuống giường nằm im ngắm ánh trăng qua khe liếp, mông lung nghĩ ngợị Đột nhiên con Vện buộc ở gốc cây đầu nhà tru lên sủa oăng oẳng. Tiếng chân người chạy như ma đuổi mỗi lúc một gần. Khi Đặng thị vừa khêu đèn lên thì tiếng gõ cửa đã dồn dập đánh thức cơn ngái ngủ đang chờ ập đến. Cửa vừa mở, tiếng nức nở vang lên: 

"Nguyễn công, xin ngườị.." 

Đặng thị cúi vội xuống xốc nách người con gái đang quì lên, thảng thốt hỏị Dưới ánh đèn, mặt người con gái nhợt nhạt, mái tóc dài màu đen huyền xổ tung ra trên hai vai bung toạc những vết rách như dao cứạ Khắp mảng áo trái, máu bầm hoen ố những đường kim tuyến thêu dọc trên những chiếc áo chẽn của phụ nữ miền núị Người con gái hai tay run rẩy đưa cho Nguyễn một quyển sách gáy da, rồi nhũn người khuỵu xuống, hai mắt nhắm nghiền lạị Đặng thị vừa lay vừa gọi nhưng vô ích. 



Người con gái đó tên là Hà Khinh Vân, nhưng mọi người trên bản Mê Thượng đều gọi nàng là nàng Mâỵ Mây là con gái đầu lòng của Hà công, người trưởng tộc họ Hà đã đến sinh cơ lập nghiệp cách đây hơn hai trăm năm trên rặng Giăng Màn. Rặng này cũng có tên là Khai Trướng, chạy theo hướng Bắc-Nam, nằm về phía Tây rặng Thiên Nhận, chia ranh giới giữa châu Hoan và vương quốc Ai Laọ Hà tộc đông nhất bản, có lẽ là họ đầu đi khai phá Giăng Màn, và đã suốt tám đời làm Chao (3) cai quản bản. Trong gần ba trăm nóc gia, với số trên dưới năm trăm tráng đinh, ngoài họ Hà còn có họ Đinh, họ Lê, họ Nguyễn. Chính vợ Hà công là người họ Nguyễn, mới di cư đến Mê Thượng khoảng hai mươi năm naỵ Nghe đâu vì có dính dáng họ hàng gì với Nguyễn Hữu Cầu đã dấy quân làm loạn, gia đình Nguyễn thị phải bỏ miệt Đồ Sơn chạy vào Đàng Trong để tránh tróc nã. 

Tộc trưởng họ Hà không nhất thiết là dòng con trưởng mà phải là một người có công đầụ Để định công, cứ năm năm, họ Hà họp Tộc hội đông đủ mọi chi mọi ngành. Hạch thí gồm hai phần, thi võ và thi văn. Phần thi văn lại trọng về mặt binh thư, và đôi khi có hỏi cả thuật Pháp trị theo sách của Thương Ưởng và Hàn Phị Không phải kỳ tộc hội nào cũng có người qua được hai phần hạch thí, cho nên đôi khi phải chờ đến mươi mười lăm năm mới được một ngườị Người này, được gọi là Tộc thứ, làm phụ tá cho tộc trưởng cho đến kỳ hạch thí saụ Nếu có thêm được người trúng hạch thì Tộc trưởng xuống nhường cho tộc thứ lên thay mình, còn người mới trúng hạch sẽ được đề làm Tộc thứ. 

Trường hợp Hà công, húy là Trường, lên làm tộc trưởng là một sự kiện khá hãn hữụ Vào tiết lập đông năm Giáp Tí đời Cảnh Hưng thứ ba, bản Mê Thượng bị một con cọp cái khôn đến hóa tinh khuấy phá dữ dộị Nó đến rình vồ người làm mương làm rẫy, và có lần xông hẳn vào bản vật chết một con trâu rồi tha đị Trai bản sợ, đi đâu phải đi thành toán năm ba người mà vẫn bị nó tấn công, có kẻ thương tích, có kẻ tử vong. Sau một năm nào là đặt bẫy, nào là đánh thuốc, nào là rình bắn tên có tẩm nọc độc, con cọp vẫn vô sự, lại trở nên ranh mãnh và táo tợn đến độ đến tận ven bản rình mò giữa ban ngày ban mặt. Người ở bản chịu thua, đành lập một cái miếu thờ thần Bạch Hổ, rồi cứ mỗi tháng đến nộp một con lợn náị Hà công năm ấy mới hai mươi hai tuổi, tính tình xưa nay vốn lầm lì, đọạt nhiên hỏi "thần Bạch Hổ là hổ đực hay hổ cáỉ" Không ai trả lời, Hà công liền vác một túi tên, một cây cung dài hai thước, một thanh mã tấu và hai cuộn dây chão to bằng ba đầu ngón chân cái, lẳng lặng đi theo đám người khiêng lợn đến miếu thờ. Khi ai nấy đã ra về, Hà tự buộc mình vào cái chạc ba khá cao trên một cây cổ thụ mọc ngay cạnh miếu, làm một cái đầu thòng lọng to bằng cái nia, rồi cột vào gốc câỵ Xong đâu đấy, Hà trèo lên cây, dở cơm nắm ra ăn, bình tĩnh như chẳng có gì. Hà chờ một đêm, sáng hôm sau con cọp đến lấy mồi như lệ thường, không có vẻ nghi ngại, cũng chẳng buồn gầm gừ khi nghe tiếng con lợn tế thần rú lên những tiếng eng éc não nùng vô vọng. Đợi đến lúc cọp vục đầu vào cổ con lợn đã bị xé tanh banh, Hà nấp trên cây ném sợi thòng lọng vào đầu con cọp. Ngạc nhiên, con cọp nhẩy lồng lên gầm. Nút thòng lọng thắt lại khiến cọp nghẹt thở. Nó khôn ngoan nằm phục xuống, mắt lừ lừ, tai nghe ngóng, mũi khụt khịt tìm hơi kẻ thù. Hà dương cung bắn sáu phát tên, phát nào cũng trúng nhưng không vào chỗ nhược. Con cọp lại gầm lên, lết nhanh vào bụi cây, quay cổ lại cắn sợi dây chãọ Hà lắp thêm tên, đợi cách bắn ngay vào chỗ giữa hai mắt cọp rồi bình tĩnh chờ. Nhưng đến quá một khắc vẫn không thấy động tĩnh gì, Hà nới dây, tụt xuống chạc cây dưới thì con cọp bỗng đâu nhẩy ào vào, làm Hà tối tăm mặt mũi rơi xuống đất. Con cọp không buông tha xông lại lấy chân tát Hà. Hà chĩa mũi mã tấu lùi ra saụ Con cọp nhẩy qua bên trái, rồi nhẩy qua bên phải, tránh lưỡi mã tấụ Vờn nhau đến lần thứ tư, bất chợt con cọp nhẩy thẳng vào Hà. Mũi mã tấu đâm xốc lên, nhưng con cọp vẫn còn sức đạp Hà ngã xuống, mồm há ra ngoạm vào chân trái Hà. Hà rút dao găm, tay phải kẹp đầu cọp, tay trái kéo một nhát vào cổ. Con cọp nhất định không chịu nhả mồị Hà lại kéo ngược lại một nhát dao, rồi đau quá, ngất đị 

Khi tỉnh dậy thì trời đã xẩm tối, Hà cố đẩy đầu con cọp ra, nhưng không còn đủ sức. Hà định gọi, nhưng biết không có ai nghe được, lại thôị Cơn khát làm rát cả cổ, nhưng ống nước mang theo văng đâu mất. Ống chân trái nát nhè trong mồm cọp làm Hà đau đến độ răng đánh vào nhau nghe lách cách như đánh mõ bản. Mờ sáng hôm sau, Hà lấy dao cắt rơi đầu con cọp, vộc miệng vào uống máu cho đỡ khát. Uống xong, Hà nôn thốc nôn tháo rồi lại ngất đị Trưa ngày hôm đó, Hà tỉnh dậy, thấy ruồi nhặng đã bu đầy vào chỗ chân trái Hà còn dính trong mồm con cọp. Hà thét lên: "Trời ơi! trời có mắt không?" rồi lại mê đi một lần nữạ Hà nhìn thấy mình bay bổng về phương Đông, đậu trên đỉnh Thiên Nhận, chung quanh chập chùng những chỏm núi tròn mầu hồng tía nổi bật giữa cái nền xanh ngắt của giãy Giăng Màn. Hà rút ống đinh-bia (4), kề môi thổi lên một khúc, rồi ồ ồ cất tiếng hát: 

Trăm thứ hoa không bằng hoa con gái 

Trăm thứ trái không bằng trái bông com 

Trăm thứ hương không bằng hương con mái 

Lúc ấy, Nguyễn thị tay dâng lên Hà chiếc cần uống rượu, mắt nhìn vào mắt Hà, bảo: "…hoa đây, hương đâỵ" 

Hà uống, thấy cổ mát lịm, từ từ mở mắt rạ Chung quanh Hà lố nhố những ngườị Ông lang mừng rỡ kêu: "Tỉnh rồi! phúc thật lớn!" Hà nhớ lại, hỏi cái chân trái mình nay ra saọ Ông lang lắc đầụ Hà đòi ăn một nồi cơm, và xin một vò rượụ Uống sạch vò rượu, Hà hỏi tìm thanh mã tấu của mình. Hà bật cười khành khạch, châm điếu rít thuốc, rồi thình lình xoay người hét lên một tiếng chặt vào khoảng thịt nhầy nhụa trên chân tráị Hà lại ngất đi một lần nữạ Ba hôm sau, Hà mời Nguyễn thị rồi kể lại giấc mơ của mình. Nguyễn thị không nói "…hoa đây, hương đây" nhưng bảo "…xin cứ cho người đến hỏị" Cuối năm đó, họ thành thân. Chú rể chống nạng và đã trở thành tộc trưởng họ Hà cách đấy đúng hai tháng. 



Đặng thị đánh thức Nguyễn vào lúc nắng đã chớm vàng rừng cây trên núi Lạp Đính. Mây vẫn còn thiêm thiếp ngủ, tóc xòa những sợi tơ huyền óng ả chảy xuôi xuống triền thân mỏng mảnh uốn lượn những thác ghềnh mới được thiên nhiên mô phỏng. Nguyễn lẳng lặng đổ nước vào bình trà Lạc Thủy, rồi gắp những mảnh than hồng chèn quanh bình nước sôi bằng đồng mun do chính Hà công mang tặng ba năm về trước. Khi ấy, Hà và Nguyễn thị ghé về làng Nguyệt Ao, nằng nặc đòi gặp. Quà ra mắt là ba sấp vải, ba sâu tiền, mười cân trà và chiếc bình đồng mun. Nguyễn hỏi: 

"Tôi làm được gì mà Hà công lại đãi thế nàỷ" 

Hà công khẩn khoản: 

"Tôi đến đây xin tiên sinh dạy cho một câu mà thôị Ngài dạy thế nào tùy ngàị Tôi học được gì, cũng tùy tôị Còn dăm ba món quà này chỉ là ngoại vật, đáng gì mà ngài phải quan tâm." 

Ngừng một lúc, Hà công tiếp: 

"Thời buổi loạn lạc này, vua không ra vua, tôi chẳng ra tôi, thánh nhân phải sinh ra để cứu đời, nhưng sinh ở đâủ" 

Nguyễn nhìn lên trời, thủng thẳng: 

"Thánh nhân sinh từ trong lòng. Mong thánh nhân là rồi có thánh nhân." 

Hà công gặng: 

"Trên có trời, dưới có đất. Giữa đất và trời có ngườị Nhưng đâu phải ai ai cũng có cái thiên mệnh làm kẻ cứu đờị Liệu thánh nhân có sinh ra trong châu Hoan này không?" 

Nguyễn ngẫm nghĩ một lúc rồi trả lời: 

"Có, đủ lửa thì rồng sẽ cất cánh bay lên." 

"Vùng nào đất nào đủ lửả" 

Nguyễn cười: 

"Nơi nào đủ người hiền thì nơi đó sẽ đủ lửạ" 

Nhìn ra dãy Giăng Màn nền xanh lam sừng sững phía sau, những chỏm núi thấp hơn của rặng Thiên Nhận nổi lên như những chiếc quạt bằng lụa mầu hồng tía giống hệt như trong tranh thủy mạc. Nguyễn đứng lên, ý muốn tiễn khách, xin hoàn tất cả tặng vật. Nằn nì mãi, Nguyễn đành nhận chiếc bình đồng mun với hai cân chè búp. Đưa khách ra cửa, Nguyễn còn nhớ cặp mắt tròn to của một con bé lay láy nhìn mình, miệng cười chúm chím. 

Lần ấy, Mây mới đâu chín mười tuổị Con bé vẻ hiền lành thuở xưa sao nay lại leo lên Bùi Phong, người bê bết máủ Đợi hết một tuần trà, nắng vừa lên đầu ngọn cây thì Mây vừa tỉnh dậỵ Mây cầm tay Đặng thị để lên ngực mình, rồi cúi đầu, nước mắt chảy ra, không nói năng gì. Một lúc sau, Mây xin lên gặp Nguyễn. Nàng quì phục xuống đất, đôi bờ vai nhỏ nhắn run bắn lên như con giun đất bị xéo quằn, kêu thảm thiết: 

"Nguyễn công ơi! Thế thì trời không cao, đất không sâu, còn có người, người có cứu lấy Mây này bé bỏng không?" 

Đặng thị dỡ Mây dậy, lấy khăn lau nước mắt cho Mây, tay nhẹ nhàng vuốt những sợi tóc rối bờị Cắn môi ghìm cơn nức nở, Mây kể… 



Dưới triền tây núi Giăng Màn là bản Mê Hạ, thuộc mường Luang. Trước khi họ Hà đến Mê Thượng hai trăm năm trước, chỉ có một bản Mê, gồm hơn trăm nóc nhà, chuyên sống bằng chăn nuôi và trồng trọt. Nước nguồn đổ về xuôi, xoáy vào đất, đục vào đá từ đời nào làm thành con sông Mê rộng độ ba mươi sải ngang, chẩy từ chân Giăng Màn qua mường Luang cho đến tận mường Râỵ Có sông Mê, nước ê hề cho trâu bò, gà, lợn, nước ê hề cho rẫy Luang quanh năm vàng ngô, xanh lúạ Nhưng chỉ ba năm sau khi đã đuổi được người Táy ở Bản Thượng khỏi chỏm Vềnh, Hà tộc đã sai tráng đinh xếp đá xây đập Cheo Reo chặn nước. Vì thế con sông Mê nay ráo kiệt. Nó cạn trơ lòng, chỉ còn phơi những tảng đá trắng tựa nhau đổ dài ra trên hai mươi dặm, giống hệt như xác một con trăn chết khô để sót lại trên mặt đất một khúc xương sống ngoằn ngoèo trắng hếụ 

Người Táy bảo với nhau: "Cái giống người gì mà ác thế, đi cắt mó (5), làm trâu chết, lợn chết, khoai chết, lúa chết, thế này thì người Táy cũng sẽ chết dần thôị.." rồi tìm cách phá đập. Hơn mười đời ông Trùm ông Chao, hơn mười lần trai Táy xách mai, xách thuổng, xách dao chằm đến Cheo Reọ Họ bảo nhau: "Phải tìm mó kíu nước, nếu không thì không có giống gì sống được." Người trên bản Mê Thượng có súng bộc hỏa, lại canh giữ rất ngặt nghèọ Vì thế, cũng lại hơn mười phen họ phải khênh xác trai Táy về Mê Hạ. Duy có được một lần họ đánh bật đám tráng đinh Mê Thượng ra khỏi Cheo Reọ Họ thấy đập nước chia làm hai lớp, làm bằng những hòn đá tảng chồng lên nhau, hòn nọ dựa vào hòn kia, sức người không sao lay chuyển được. Vài bô lão còn sống kể rằng khi đó họ cho người Táy về mường lấy bộc lôi đến phá. Con trai Táy đào đường mương, dựa thế nấp vào, rồi dùng cung tên đẩy lùi những lần tiến công của con trai Kinh, cố giữ Cheo Reo được gần ba ngày ba đêm. Cuối cùng họ buộc được bộc lôi vào những gềnh đá đầu chĩa lên nhọn hoắt. Trai Kinh lúc đó đã tiến sát đến tuyến mương phòng thủ. Ông Phìa (6) hy sinh trai Táy, ra lệnh cho nổ bộc lôị Bộc lôi nổ to đến rách toang màng nhĩ. Đám voi rừng hoảng hốt vừa đâm dầu chạy vừa hống lên những tiếng tru chéọ Da thịt tóc tai trai Táy lẫn với sạn đá bay bốc lên trời, rồi rơi xuống làm rừng núi đỏ lè lè như lưỡi một trăm con ma thò ra liếm cây liếm cỏ. Nhưng đập Cheo Reo vẫn cứ vô sự, nước chỉ rỉ rả chảy xuống, vô tình để mặc con sông Mê vẫn cứ mãi trơ lòng cạn kiệt như trước. Từ đó, người Táy tản ra xa, xuôi về đồng bằng, bỏ ý phá đập, và chỉ lúc ông trời ra cơn hạn hán mới lên đập xin nước vào những tháng giữa hạ, khi nước còn quí hơn cả vàng dát trên vòng cổ con gái Táỵ Đời này sang đời nọ, không biết nghe từ đâu mà họ kháo nhau rằng khi nào tìm được mật kíp của bản Mê Thượng thì người Táy mới biết cách phá đập. 

Mật kíp như thế nào, chỉ có ông Chao của bản Mê Thượng, nghĩa là những người tộc trưởng họ Hà từ hai trăm năm nay, mới biết tận mắt. Theo lệ, mật kíp được trao tận tay ông Chaọ Ông Chao cất giấu mật kíp ở Hang Sau, một nơi không ai được được phép vàọ Chỉ khi nào bản gặp những khó khăn đến độ cả bản đòi thì ông Chao mới được mở mật kíp tìm lời giảị Theo lời truyền tụng, mật kíp do chính ông hoàng Mười, một vị trong Bát Tiên, đã trao tận tay cho ông Chao sáng lập ra bản từ lúc tạo thiên lập địạ Chuyện thế gian đâu đó yên bài cho nên tất cả mọi việc từ cổ chí kim đã được tiên liệu trong quyển sách thánh nàỵ Lần gần nhất phải mở sách là lần cách đây hơn năm mươi năm, hai họ Hà và Lê xích mích vì một câu chuyện không đáng gọi là lớn. Trâu một người họ Hà tên là Hà Chiến dẫm nát mương họ Lê, họ Lê sang bắt đền. Họ Hà cậy thế mạnh không lý đến chuyện trâu dẫm, lại xách me "… mương nhà nào, nhà nấy cứ giữ!" Lê Ân, tộc trưởng họ Lê, là một người nóng tính, lại giỏi nghề võ, đánh câu liêm rất tài tình. Ân giận căm gan, song chỉ cười nhạt, sập cửa bỏ về nhà. Dăm bữa nửa tháng sau, đàn trâu của Hà Chiến lại mon men đến mương họ Lệ Ân ngồi trong nhà quẳng câu liêm ra một lần đánh hai con trâu vỡ toạc đầu, hồng hộc kêu rồi chết. Chiến liền rủ một đám tráng đinh họ Hà đến vây nhà Ân liền hai ngày, bắn tên và định phóng hỏa đốt. Sáu đứa con trai của Ân, hai đứa bị thương nặng. Ân gào lên: "bớ Hà Tuyên, ai phân xử đâỷ" rồi phanh ngực, mắt đỏ ngầu, sừng sững xông ra, quát: "Có chết, ta sẽ kiện với diêm vương!" Tên bắn như mưa găm vào người Ân trông như nhím xù lông, song Ân vẫn không ngã, mắt trợn ngược lên, miệng ứa máu ra, chết đứng. Khi ông Chao bản là Hà Tuyên đến nơi thì cơ sự đã xảy ra mất rồị Đám con họ Lê quì xuống xin mở mật kíp. Cả bản thấy truyện thương tâm, bất bình với Hà Chiến, nên đồng ý. 

Đình của bản Mê Thượng xây trên hai sào đất vuông vắn trước cửa Hang Sau, nơi cất giấu mật kíp. Lối vào Hang Sau là một ngách nhỏ, có cắm bảng gỗ đỏ đục hai chữ "Cấm Nhập" Hà Tuyên vái trời, vái đất, rồi vái tượng Thần Bản, miệng lầm rầm đọc. Lách vào trong hang, sau khoảng một tuần trà, Tuyên ra sân đình cung kính nâng cái hộp bằng ngà trong có một quyển sách gáy da đã sờn. Hơn năm trăm người ngồi im lặng đợị Tuyên quát: "Đánh cồng lên" rồi quì xuống. Tiếng cồng dội vào giãy núi Giăng Màn, vọng lại từng hồi, nghe như sấm động. Tuyên mở sách trên án thư, mắt chăm chú. Khi tiếng cồng vọng cuối cùng tắt đi như tìm về âm u xa hút, Tuyên đọc: "Ai là kẻ gây sự bạo hành giết người trong bản thì cả nhà phải bỏ bản mà đi về phía Tây, trái lời phải tội chết ba đời, ai muốn giết cũng được." 



Năm ngoái, ngày Mây tròn mười bẩy, Mây rủ mấy đứa con gái đi tắm suốị Suối nằm ngay dưới đập Cheo Reo, nước xuôi xuống chỉ độ ba trăm thước là kiệt cạn. Buổi trưa nồng, gió ùa về từng cơn nóng rát. Mây lõa thể nằm ngửa ra cho nước ào vào tóc, vào mặt, vào yếm. Con Hường giạng chân, váy sắn đến bẹn, đùi thon chắc nhô lên thụt xuống, vừa cười vừa té nước tung tóe bắn thành những hạt óng ánh kim cương nhẩy múa dưới nắng trưa trong suốt. Con Hằng cởi yếm, tay giả như che phần trên cơ thể nhưng vẫn để cặp vú căng nứt nhô ra như sừng trâu, vắt vẻo ngồi trên một hòn đá trắng nhô lên trên nền toàn sỏi hồng, miệng hát 

Chiều chiều em dẫn mẹ qua đèo 

Em đi bên nớ 

Tình tình ơi, anh theo bên nàỏ 

Chiều chiều dẫn mẹ đi theo 

Tình, tình ơi 

Nhớ ai em kiếm cuối đèo dấu chân 

Tình, tình ơi 

Nhớ ai em những khóc thầm 

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa 

Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ 

Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai… 

Một tiếng sáo đinh-bia bỗng nhiên vẳng lên từ đâu đó, xa vắng, mênh mang. Mây nhỏm dậy rỏng tai, ngước cặp mắt nâu thăm thẳm tròn trĩnh trên khuôn mặt trái soan rám hồng, môi hơi trề xuống, miệng mở hé như cười, chiếc răng nanh khênh khểnh lộ ra làm tăng cái vẻ nghịch ngợm của một cô gái vừa tuổi dậy thì. Tiếng sáo véo von lên cao hun hút như chạm vào giải mây trắng, xô nhẹ vào bầu trời trong vắt rồi vẳng lại như lời tỉ tê kể lể một chuyến đi không đến đích. Tiếng sáo có lúc lại ríu rít như đàn chim bất chợt gập lại một mùa Xuân đã tưởng đánh mất, hót lên sự sống hồn nhiên mạnh mẽ tựa măng tre đục đá trồi lên. Tiếng sáo chợt thổn thức tựa như tiếng khóc tủi thân của đứa trẻ tứ cố vô thân bỗng dưng bắt gặp cảnh một mái nhà yên ấm. Tiếng sáo bỗng não nùng tiếng than của kẻ bất đắc chí ngại ngần soi gương nhìn mái tóc mình đang trắng xóa những đám lau già mỗi lúc một thưa đị Tiếng sáo lúc sau đứt quãng tức tưởi một nỗi buồn không an ủi được, rồi nghẹn ngào uất ức tựa như lời trăn trối của đám tử tù trước khi lên đoạn đầu đàị Tiếng sáo trầm sâu xuống kể lể nguồn cơn với ngọn gió vô tình đã từ hàng tỉ năm nay chuyên trở vào hư vô vô số những niềm bất hạnh. Tiếng sáo cuối cùng cuống quít, loanh quanh như con chồn gập bẫy, rồi hốt hoảng như đám nai tơ chạy tên đâm đầu vào bụi gai rạc. 

Mây nằm xuống suối lắng nghe, cơ thể doãi ra như sắp tan biến trong không khí, để mặc nước mắt cứ ứa đầy mặt hòa tan vào dòng suối róc rách chảỵ Mây ngạc nhiên không hiểu cớ sao mình khóc. Nhưng Mây cứ để mặc nước mắt đầm đìa chảy, mơ hồ cảm nhận như bắt gập lại một cái gì thật thân thương đã chót đánh mất từ lâu lắm, có thể là trước cả khi Mây ra đời, không nhớ được nhưng vẫn cứ lờ mờ lúc ẩn lúc hiện. Những giọt nước mắt ấy, tuy vẫn mặn sót như muối, nhưng làm sao lại khiến lòng Mây cứ lơ lửng giống như giải mây trắng đang lênh đênh giữa trời xanh văn vắt. 

Sau hôm ấy, trưa nào Mây cũng ra suối thẫn thờ đợi tiếng sáo đã vô tình im bặt. Ba tháng ròng, Mây lẩm nhẩm cầu xin: "Ông xanh ơi, cho Mây tiếng sáo kia nhé…" Lần nào Mây ra suối, Trần Trung cũng kín đáo đi theọ Từ dạo Trung bắt gập Mây trần truồng ưỡn ngực hứng con nước đổ từ ghềnh cuối Cheo Reo xuống vũng Cắt đầu nguồn sông Mê, Trung ngày đêm thẫn thờ, không thấy Mây là ăn ngủ không được. Mây bây giờ như người mất hồn, chẳng nói chẳng rằng, chiều chiều ra ngồi trên tảng đá, mắt lạc vào hun hút một khoảng không đầy bấp bênh khó định. Trung hái một bó hoa rừng, lẳng lặng mang đến để cạnh chân Mâỵ Trung nhẹ nhàng: "Có chuyện gì thế hả Mâỷ" Mây cười buồn buồn, chỉ lắc đầụ Sáng hôm sau, Trung quay về chỗ tảng đá, thấy bó hoa vẫn ở đấy, chỉ héo đi trông tàn tạ thảm hạị Trung biết đã mất một cái gì thiêng liêng như chính cuộc sống của chính mình. Nước mắt dàn dụa chảy như suối tràn mùa nước lên, Trung bưng mặt ngồi cho đến hết đêm, mong gặp hổ báo cho rồi đờị 

Cho đến một buổi tiếng sáo lại réo rắt đưa về Cheo Reọ Mây mừng đến run bắn người, mắt lại ướt lại những giọt nước mắt xưạ Mây lần theo gió đi tìm, nín lặng nép vào bụi rạc, mê mẩn đến độ gai đâm nát tay chảy máu mà không biết. Nhìn xuống chân chỏm Vềnh, Mây thấy thanh niên ấy nâng cây đinh-bia ngang miệng, mắt nửa nhắm nửa mở, hồn như lạc vào chốn không núi rừng, không cây cỏ, không cả đất, cả trờị Quấn chiếc rông màu xanh thẫm, thân trần cuồn cuộn những bắp thịt đồng mun, tóc dài hoe đỏ phần phật bay trong gió nồm, chàng có thật hay chỉ là ảo ảnh một cuộc đi về từ cái cõi lờ mờ giữa trần thế? Chàng ngưng thổi, tay vỗ nhẹ vào chiếc sáo bầu tròn, hát: 

Gió thổi bụi na 

Khăn đào của ai phơi sàn gió thổi 

Gió thổi khăn rơi 

Khăn rơi khăn rơi xuống mặt đường 


Bạn tình ơi 

Người đẹp của ai 

Hoa trắng nơi vườn dưa 

Hoa đỏ nơi vườn mía 

Áo em tô dấu son 

Thân em hồng màu rượu 

Mặt em tươi sáng 

Miệng em chúm chím hoa sen 

Tóc em hoa đào chải gió 

Tay em níu chĩu cành mai… 



Mây ngày nào cũng ra đợi ở chỏm Vềnh cho đến khi Đèo Kha lờ mờ linh tính thấy mình là một con thú đang bị rình săn. Một hôm, Mây nấp sau thân cây sim già, mắt ngóng, lòng thấm dần nỗi thất vọng và niềm đau xót lửng lơ, không thấy bóng dáng Kha đâu cả. Về chiều, chim bắt đầu nháo nhác bay, ánh tà dương lịm vào cây cỏ tô đậm cánh rừng vòng theo nỗi sẫm của niềm nhớ đã chớm vô vọng. Chợt vai Mây có bàn tay nào nắm lấy, bóp mạnh như gọng kìm sắt, ghì xuống. Mây thất thần quay lại, mái tóc búi xổ tung ra thành thác đổ trào xuống, mắt hoảng hốt căng tròn như nai mắc bẫỵ Bàn tay nới lỏng dần ra, Mây nhắm mắt, miệng hé ra, nhếch cười trong cơn mê, cảm thấy đôi môi ướt át áp vào má mình, mặt mình, rồi tai, rồi cổ, lần lần xuống vú, xuống bụng cho đến lúc nàng bật dậy, kéo vội chiếc rông quấn phần dưới cùng của thân thể không biết đã tụt ra từ lúc nàọ 

Sau này, Mây nũng nịu bảo với Đèo Kha rằng cuộc gập chiều ấy là giải giây ông Trời buộc, đố ai cởi cho rạ Những lần hẹn hò nhau, Mây và Kha tìm nơi hoang dã, tránh cho xa dân bản, nhưng điều tiếng đã có chút xôn xaọ Mây thỏ thẻ: "…biết đâu ta về ở với nhau rồi thì Mê Hạ và Mê Thượng sẽ lại là một bản Mê như những ngày xửa ngày xưạ" Đèo Kha, mồ côi từ bé, về xin phép ông chú đã nuôi mình thành ngườị Đèo công ở bản Mê Hạ chần chừ. Cái mối oan nghiệt giữa Mê Thượng và Mê Hạ vẫn sừng sững ở Cheo Reo đó, chặn nước không cho lòng người thông được với nhaụ Ông đoan chắc họ Hà ở Mê Thượng sẽ không bao giờ nhận kết nghĩa dâu gia với Mê Hạ. Đèo Kha giục Mây hỏi ý bố mẹ. Mây cũng sợ, nói liều: "…hay là Kha bắt em mang đị" Kha lắc đầu bảo: "nếu làm thế thì chắc chắn đinh Mê Thượng sẽ tìm đánh Mê Hạ," máu sẽ chảy ra thay cho nước sông Mê đã cạn sạch trong cái lòng sông từ nhiều năm ráo kiệt. Mây càng sợ, bóp bụng định tâm nói trước với mẹ. Nghe Mây nói xong, Nguyễn thị chỉ thở dài lắc đầụ Đợi thêm một tháng, Mây cắn răng, mặt nhợt nhạt, ấp úng thưa với chạ Vừa nói được hai câu, Hà công đập ngay chiếc tách trà đang uống xuống đất, bảo: 

"Nó người Táy, đâu phải người mình…" 

Thuận tay, ông tát Mây một cái trời giáng, tiếp: 

"Mày là con tao thì tao chọn rể." 

Hà phủi tay chống nạng đứng dậỵ Từ đó, ông cấm Mây xuống suối, ra lệnh cho Trần Trung dẫn tráng đinh đi kiểm soát nghiêm mật đập Cheo Reọ Trần Trung lòng vẫn yêu Mây say đắm, sai người mai phục định giết Đèo Kha một lần, nhưng Kha thoát được. Về phía Mây, miệng ngậm tăm chẳng nói chẳng rằng, nàng không ăn không ngủ gần một tháng, thoi thóp nằm chờ chết. Nguyễn thị quì xuống chân Hà công, xin: 

"Nghiệp con nó thế, cấm thì nó chết mất, sau lại báo oán vào mình, xin ông nghĩ lạị" 

Hà công vào nhìn con gái, lòng hận như chính mình bị tình phụ, ứa nước mắt đi ra, bảo: 

"Làm thế nào thì làm, nhưng ta thách cưới một thớt voi, sáu trâu, sáu bò, vàng hai mươi lạng và hai trăm thước lụa Hà." 

Được tin, Đèo Kha thừ người ra, bảo với Mây "…chẳng phải chỉ bản Mê Hạ, cho cả hết Mường Rây dưới kia gọp lại cũng chưa chắc đã có đủ bằng ấy đâụ" Mây ôm lấy Đèo Kha, miệng cắn vào vai đến bật máụ Đèo Kha ứa nước mắt, lẳng lặng gỡ tay Mây rồi lủi thủi xuống dốc về Mê Hạ nói chuyện với chú. Ngay tối hôm ấy, Đèo công cho mời ông Chao, rồi bàn tính thế nào, cả hai người dẫn Đèo Kha lên gập ông Phìa chủ quản khắp Mường. Sáu ngày sau, Đèo công xin đưa trước ba trâu, ba bò, và mười lạng vàng, cho Đèo Kha lên làm "côn hươu" (7) để thử rể, và hẹn sang năm sau sẽ nộp đủ lễ cưới Mây về Mê Hạ. 

Ngày Đèo Kha lên Mê Thượng là ngày Mây hoàn toàn bình phục. Mây ôm chân bố, hôn taỵ Hà công lạnh lùng bảo: 

"Đủ lễ, cưới ngay, rồi mày cút đi đâu thì đị" 

Đèo Kha làm đủ việc phục dịch trong nhà, đêm ngủ ở dưới quản (8), gần chuồng gia súc. Có chuyện gì Kha cũng chỉ hềnh hệch cười giả lả, nuốt mọi nhục nhã đớn đau vào bụng, lúc nào cũng sẵn sàng làm vừa lòng mọi người trong khắp bản Mê Thượng. Trẻ con dậy Kha chọ chọe tiếng Kinh, cười ầm lên trêu chọc, mặc Kha cứ ngẩn người ra nhìn về phía Mây như cầu cứụ Chiều chiều, sau bữa cơm, Kha lại mang đinh-bia ra thổị Tiếng sáo hay đến độ ít lâu sau cả bản đâm nghiện, vắng nó thế nào là cũng có người băn khoăn xáo xác đi tìm Khạ Một thời gian sau, hầu hết mọi người đều nhận Kha như người trong bản, trừ Hà công và dĩ nhiên là trừ Trần Trung, người đã phải lòng Mây từ lúc nàng mới mười lăm. Trung nghe không chịu nổi tiếng sáo, lên xin Hà công cho phép mình rời bản về xuôị Hà công nhìn Trung đăm đăm rồi nói: 

"Muốn có thì phải cướp. Có cướp được, ta cho cướp đấỵ Việc gì phải vội đị Mình mất người mất của chớ có phải kẻ cắp đâụ" 

Trung nghe hiểu, cám ơn Hà công. 

Một hôm, Đèo Kha một mình đi lấy củi trong rừng ven chỏm Vềnh. Đang chặt, Kha thấy rờn rợn, vội cúi mình xuống thì một mũi tên bay đến cắm ngay vào thân câỵ Kha luồn ra sau cây, lặng lẽ trườn mình như trăn, tay nắm đốc daọ Trần Trung bắn hụt, chồm lên cầm kích thận trọng bước tớị Vừa đúng tầm, Đào Kha xông ra đâm một nhát. Dao đi lệch đường, toạc rách áo Trung. Trung vòng người đâm ngược ngọn kích lại, gầm gừ, rồi quét ngang kích vào chân Khạ Kha ngã xuống nhưng lại lủi ra sau thân cây, thuận tay chặt một cành ngang dùng làm gậỵ Hai người quần nhau không biết bao lâu, nhưng mãi đến giờ cơm chiều vẫn không thấy ai về cả. Hà công cho tráng đinh đi tìm thì thấy Kha bị đâm một kích vào đùi không đứng dậy được. Gần đó, Trung nằm đầu dập nát, máu tươi còn loang đỏ trên đám cỏ xanh bị đạp nhầụ Khi chôn Trung xong, Mây đặt một vòng hoa lên mồ, nước mắt ứa ra, khấn: "…sống khôn, chết thiêng, hãy về nơi cực lạc, xin đừng vì tình kia mà đeo đuổị" 

Tuy vết thương chưa lành hẳn, Đèo Kha lấy cớ giỗ ông xin về dưới Mê Hạ. Đèo công nghe Kha kể chuyện xung đột với Trần Trung, thở dài rồi ôm cổ cháu miệng thầm thì. Kha chăm chú nghe, cứ lắc đầu quầy quậỵ Ông nghiêm sắc mặt, tu một hơi rượu cần, thở ra rồi gằn giọng: 

"Thế thì mày đừng đi nữạ.." 

Đến lần thứ ba, Kha ôm lấy chân Đèo công, rơi nước mắt thì thào thế nào mà mặt mũi Đèo công rạng rỡ hẳn lên. Ông vội vã tìm gập ngay ông Chao bản Mê Hạ, rồi cho người chạy xuôi báo cho ông Phìa của Mường Râỵ Hai ngày sau, ông gọi Đèo Kha ra, nhỏ nhẹ bảo: 

"Thớt voi có rồi, bây giờ chỉ đợi người đi dưới Kinh mua lụa về là đủ." 

Hôm sau, Đèo Kha lên đường về Mê Thượng. 

(Còn tiếp) 


Chú Thích 

1. Nổi loạn chiếm Đồ Sơn năm 1742, thường lấy của nhà giầu ra phân phát cho người nghèo, chống với chúa Trịnh được gần mười năm. 

2. Là tôn thất nhà Lê, nổi loạn chống Trịnh Doanh ở Thăng Long, thất bại phải chạy ra Thanh Hóa năm 1738. 

3. Chỉ người đứng đầu một làng. 

4. Một loại sáo ngang của người Thái trắng. 

5. Tiếng chỉ nguồn nước. 

6. Người chỉ huy một địa phương. 

7. Theo tục lệ người Thái, chàng rể phải đến nhà gái làm những công việc phục dịch trong một thời gian trươc khi được cưới cô dâụ 

8. Chân nhà sàn, nơi dành cho gia đinh làm việc phục dịch ở trong nhà. 

Thảo luận cho bài: "Tiếng Đá"

Tìm theo tên

Tìm theo tác giả