Tiếng Đờn Cò Trên Vàm Sông Ô Môn

Tác giả:

Vàm sông Ô Môn là nơi con sông Ô Môn đổ ra con sông Hậụ Bên phải là chợ Vàm, không biết chợ mọc lên từ lúc nào, khi tôi sinh ra đời thì đã có chợ đó rồị Bên trái vàm sông là quê ngoại của tôi, cách cửa sông vài trăm thước thuộc xã Thới An, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thợ Quê Nội của tôi nằm bên kia bờ sông Hậu thuộc xã Tân Lược, quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. 

Ông bà Ngoại chỉ có hai cô con gái là mẹ tôi và dì Maị Còn cậu Ba Lượm không phải là con đẻ. Nhưng, ông bà ngoại xem như con ruột. Mẹ và dì Mai coi cậu Ba Lượm như anh em một nhà. Ngoại hình của cậu Ba tuy có hơi khác thường với cái lưng gù, làm cho thân mình thấp xuống chỉ còn 1 thước 3 phân tâỵ Mỗi bước đi, cậu phải đưa cái đầu tới phía trước, cái lưng còng xuống như khuân vác một vật nặng. Đi trên bộ thì chậm chạp như thế, nhưng khi xuống sông thì cậu bơi lặn nhanh như con rái cá miệt U Minh. Đã vậy mà cái vai bên trái hơi xệ xuống làm cho tướng đi của cậu Ba nghiêng nghiêng một bên. Nhưng, trời lấy cái nầy, lại cho cậu Ba cái khác, có tật có tài mà. Cái tài bắt chước của cậu khỏi chỗ chê, cậu có thể giả y chang giọng hò của một cô thôn nữ chèo đò, tuy xấu xí nhưng lại ăn nói rất có duyên, thích pha trò chọc cười thiên hạ; vì vậy, đám cưới, đám hỏi trong cái xã Thới An này, gia chủ phải mời cho bằng được cậu Ba đến chia vui cùng hai họ. Tánh tình cậu lại thật thà, chất phác, đối với ông bà ngoại của tôi vô cùng hiếu thảo, một dạ thẳng ngaỵ Nên ông bà ngoại tôi, ba má và dì Mai đều quí mến cậụ Mẹ có lần kể cho tôi nghe về lai lịch cậu Bạ 

* * * 

Vào khoảng năm 1930. 

Lúc đó, ông bàngoại tôi làm tá điền cho gia đình một đại điền chủ ở quận Ô Môn là ông Ba Cảnh. Hầu hết đất đai từrạch Ba Rít đến rạch Ca My đều thuộc gia đình nàỵ Gia đình nghèo, lại có con nhỏ vừa mới lên 5 là má tôi bây giờ, nên mỗi buổi tối, ông ngoại thường bơi xuồng ra vàm sông Ô Môn giăng câụ Dân gia9ng câu đêm tại vàm sông Ô Môn đều thân mật gọi ông ngoại là ông Chín Hộ Không phải vì ông hô răng đâụ Sở dĩ có cái tên này là có lần ông ngoại may mắn câu được một con cá hô hồng to quá mạng, cái mình to bằng cái thùng phuy, nặng gần 2 tạ, cặp mắt lồi ra, tròn vo như cái chén, vảy cá màu hồng nhạt lóng lánh màu bạc. Ông ngoại tôi phải đánh vật với cá mấy tiếng đồng hồ mới lôi được nó vô bờ. Ông Ba Cảnh bằng lòng mua lại với giá 100 bạc để làm thức ăn đãi bạn bè. Kể ra, ông ngoại tôi gặp may cũng đúng thôi! Vì loại cá hô chỉ thích sống vùng nước lợ như vùng biển gần miệt Trà Ôn mới có, hiếm khi loại cá này lội ngược dòng, vô sâu tới tận vàm sông Ô Môn hoặc tận Vàm Naọ Cá hô gồm có ba loại; cá hô hồng thịt ngon nhất hạng, kế đến là cá hô đất và cá hô bông. 

Một đêm sáng trăng. Ông đang giăng câu phiá dước cù lao Cát khoảng giữa Ô Môn và Thốt Nốt. Bỗng nghe tiếng trẻ con cười khúc khích dước gốc cây bần gần bãi cồn, ông giật mình tưởng bị ma nhát; tò mò, ông chèo ghe tấp vô bờ thì thấy một hài nhi trần truồng, còn đỏ hỏn nằm trên giề lục bình, một chân thòng dưới nước bị cá lòng tong rỉa nên làm nó nhột nhạt, thỉnh thoảng lại cười ré lên; có lẽ vậy mà trong gần suốt cuộc đời cậu không bao giờ biết khóc, biết buồn. Nhưng có một lần, tôi thấy cậu Ba Lượm ứa nước mắt … Ông ngoại tôi liền vói tay, ẵm đứa bé lên ghe, cởi áo và tháo cái khăn rằn quấn quanh cổ, bọc nó lại cho ấm, rồi cấp tốc bơi xuồng về nhà. Có lẽ đứa bé vừa mở mắt chào đời đã bị dị tật, xấu xí nên cha mẹ bỏ trôi sông chăng? Ông bà ngoại động lòng trắc ẩn, đồng ý nhận đứa bé làm dưỡng tử và lấy họ của mình đặt tên cho nó là Lý văn Lượm. 

Từ khi nhận cậu Ba Lượm làm con nuôi, ông bà ngoại tôi làm ăn phấn chấn lên, mấy năm trúng mùa liên tiếp. Sau khi đong lúa ruộng cho điền chủ vẫn còn dư ăn, dư bán mà còn thừa chăn nuôi gà vịt. Năm 1935, dì Mai chào đời vào đúng ngày mùng một Tết Nguyên Đán Ất Hợị Ông bà ngoại bèn trả đất lại cho gia đình ông Ba Cảnh, tậu đất vườn tại vàm sông Ô Môn để lập nghiệp. Cậu Ba Lượm từ một nụ măng non èo uột và lớn lên thành một cây tre mọc bên bờ ao, bền bỉ, dẻo dai, và không hề ốm đau bao giờ. Mới lên 10 tuổi, cậu Ba Lượm đã biết bàn chuyện làm ăn với ông ngoại tôi, mua trâu cho cậu chăn để cày thuê cho bà con nông dân quanh vùng. Năm cậu Ba lên 13 tuổi thì mẹ tôi về làm dâu nhà họ Huỳnh bên kia bờ sông Hậụ Việc nhà, việc ruộng nương đều do một tay cậu Ba giúp đỡ ông bà ngoạị 


Ông ngoại rất thích mai vàng, còn bà ngoại tôi lại thích hoa sen trắng. Tên mẹ tôi là Lý thị Bạch Liên do bà đặt. Còn tên dì là Lý thị Hoàng Mai do ông đặt. Ngôi nhà của ông bà ngoại là nhà ngói ba gian, có sân rất rộng. Phía trước ông trồng đủ các loại hoa mai quí và hiếm như "nhất chi mai" có chùm hoa nở đỏ rực rở, "bạch tuyết mai" có chùm hoa trắng cánh nhỏ li ti, "lục hoàng mai" khi nở ra sáu cánh màu vàng rực rở, kiêu sa … Ông ngoại thường tự hào, chỉ khác hiền sĩ Lâm Bô vào thế kỷ thứ 10 ở Hàng Châu bên Tàu là ông ngoại lập gia đình, còn lão Bô suốt đời sống độc thân để trồng mai và nuôi chim hạc. Còn sân phía sau nhà, ông cho người đào một cái hồ cá khá rộng, dưới thì thả cá he vàng, trên mặt ao thì ông thả hoa sen trắng. Chung quanh bờ ao, bà trồng caụ Chính giữa hồ, ông cất một cái nhà thủy tạ nho nhỏ. Vào những mùa trăng sáng, ông bà đưa nhau ra đó uống trà, ngắm trăng. Còn cậu Ba Lượm hầu quạt, đuổi muỗị 

Ngược lại, bà cũng chiều ông để đáp lễ. Một hôm, ông và cậu Ba Lượm vắng nhà hai tuần lễ để lên Châu Đốc mua trâu càỵ Bà mướn người xây một cái bể cạn giữa sân nhà, đường kính 5 thước. Giữa bể, bà cho xây một hòn giả sơn bằng nhiều loại đá khác nhau như đá vôi trắng, san hô, đá tai mèo, đá cẩm thạch …. trông giống như một hòn đảo nhỏ giữa biển. Dưới bể, bà cho thả bèo tây, bèo hoa dâu và đàn cá vàng lội lững lờ. Mấy ngày sau, ông ngoại trở về, cái hòn non bộ cũng vừa hoàn tất. Ông ngoại rất ưng ý. Từ đó về sau, thú chơi hòn non bộ trở thành thú tiêu khiển thanh tao và ông đã bỏ ra nhiều công sức, sưu tầm thêm nhiều loại cây cảnh như cây dương xỉ, cây da, bụi tre, khóm trúc … để trồng thêm và làm cho hòn non bộ thật đẹp và trở thành một tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trong vùng. Đứng trước hòn non bộ, mọi người có cảm tưởng đứng trước một cảnh thần tiên, nước nhược non bồng được thu nhỏ lại ở chốn trần gian. 

Vào những đêm trăng thanh gió mát, ngoại tôi thường bảo cậu Ba Lượm chèo ghe đưa ngoại ra vàm sông Ô Môn giăng câu để nhớ lại những ngày gian khổ và mong gặp lại một số bạn vong niên. Trong số này có người bạn chí thân của ông ngoại là ông Mười Đờn Cò. Mấy chục năm về trước, lúc còn độc thân, hai người gặp nhau vào mùa nước lũ tràn đồng ở "cái rốn" Đồng Tháp Mườị Tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm về ông ngoại trong mùa nước nổi vào khoảng trung tuần tháng 10 năm Tân Mão (1951), lúc đó tôi đã lên 7 tuổi, đang học lớp tư trường làng với thầy giáo Tiến ở ngoài vàm. 

Khoảng 4 giờ chiều, cậu Ba Lượm đầu đội nón lụp xụp, tay dắt ông ngoại lội nước ngập lé đé, từ ngoài sân đi vào nhà. Vừa nghe tiếng gõ cửa, tía má tôi vội vàng đi ra đón. Tưởng ai, vừa thấy ngoại, má tôi giật mình hỏi ngay: 

– Bộ má xảy ra chuyện gì rồi hả tíả 

Ngoại tôi cười, nói: 

– Má tụi bây mạnh cùi cụi, có việc gì đâu mà tụi bây khéo lọ 

Tía tôi nói: 

– Trời lụt lội, nếu không có chuyện gì gấp thì để sáng ngày mai, tía biểu cậu Ba chèo ghe qua cho vợ chồng con hay là được rồi! 

– Ừ! Thằng Bảo, cháu ngoại cưng của tao đâu rồỉ Nó ngủ chưa vậy, bâỷ 

Tôi đang nằm trên giường, ngửa mặt lên nóc nhà, nhìn con rắn hổ ngựa đang rượt con chuột lắc vừa chạy, vừa la chí chóe trên mấy cái kèo nhà. Nghe tiếng ông ngoại, tôi lật đật bước xuống giường chạy ra chào ông ngoạị Thấy tôi, ngoại liền hỏi: 

– Sao nà, tối nay có muốn đi giăng câu với ông ngoại không hả, thằng chó con? 

Tôi hỏi: 

– Đi giăng câu ở miệt nào vậy ông ngoạỉ 

– Ở miệt dưới cù lao Cát. 

Ông ngoại cười hỏi: 

– Sao, có muốn đi giăng câu với ông ngoại không nà ? 

Nói gì chớ đi giăng câu là tôi chịu liền. Tôi nói: 

– Dạ, đi với ai thì con chần chờ, còn đi với ông ngoại là con chịu liền! 

Tía tôi cười nói: 

– Mới có bây lớn mà biết nịnh ông ngoại rồi đó. 

Má tôi có vẻ không đồng ý,nói: 

– Nước lũ dâng lên tràn bờ, mênh mông như cát biển, rủi ro sóng đánh chìm ghe thì nguy hiểm lắm tía à! Tía đã có tuổi, còn thằng Bảo còn con nít làm sao đủ sức lội vào bờ chớ! 

Cậu Ba Lượm cười, nói: 

– Còn em đây nữa chi! Chị Hai khéo lo thi thôi! Em một tay ôm tía, một tay ôm thằng Bảo, lội một cái rẹc là vô tới bờ liền. 

– Anh biết tài bơi lội của cậu rồị Tía quay sang má tôi nói: 

– Thôi, cho nó đi chơi với ông ngoại và cậu Ba đi má thằng Bảo à! Con nước đứng chững lại rồi mà. 

– Thôi được rồi! Chị giao nó cho cậu Ba đó!. Má nhìn ông ngoại, nói: 

– Tía ăn cơm chưa vậỷ 

Ngoại tôi cười, nói: 

– Ăn sơ sơ, còn để bụng ăn nhậu với bạn bè tối nay chớ! 

Má tôi hối: 

– Thôi, tía có đi thì đi sớm về sớm. Trời sắp hoàng hôn rồi đó tíạ 

– Ừa! Tía đi nghe tụi bâỵ 

Ngoại nắm tay tôi: 

– Thôi, đi cháu! 



Từ hôm nước lụt, nhà trường đóng cửa gần cả nửa tháng. Nằm bó gối trên giường từ sáng đến tối, học ôn bài chán thấy mồ. Tôi bây giờ như chim xổ lồng, hớn hở theo ông ngoại và cậu Ba xuống ghẹ Cậu Ba Lượm nhổ sào, chèo cập sát những hàng dừa dọc theo bờ sông Hậu cho an toàn. Chiếc ghe xuôi theo dòng nước lớn, ngược lên hướng cù lao Cát. Tôi ngồi đằng trước mũi ghe với ông ngoạị Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi, được ngồi ghe lướt sóng trên dòng sông Hậu vào mùa nước nổị Những hoạt cảnh sinh động của người nông dân miền Tây Nam Bộ vào mùa lam lũ, đã để lại trong tuổi thơ của tôi những kỷ niệm khó phai mờ trong ký ức. 

Mùa nước nổi trên dòng sông Hậụ Nắng chiều bàng bạc pha loãng trên dòng sông màu nâu, màu của đất bùn phù sa hòa cùng với màu sắc mây trời in bóng trên dòng sông, tạo thành không gian mênh mông huyền ảo làm cho cuộc sống của nông dân cảm thấy thêm phần vất vả, lẻ loị Tiếng mái dầm khua nước nhịp nhàng, lúc nhặt lúc khoan. Một ngôi chùa cổ nào đó vang lên những hồi chuông ngân nga như từ quá khứ xa xôi nào đó thong thả vọng về. Tiếng hò mái dài lơi lả của những cô thôn nữ chèo thuyền xuôi ngược trên sóng nước, cất lên lanh lảnh … và tất cả những âm thanh hỗn độn đó hòa lẫn vào nhau, tạo thành một bản hợp tấu khúc sinh động của phù sa trổi lên trong mùa nước nổị

Thấy tôi đang ngồi trầm ngâm nghĩ ngợị Ngoại bảo tôi: 

– Con đi vào khoang, lấy hai cái nấp nồi bằng nhôm máng trên vách lá rồi đem ra đây cho ông ngoạị 

Tôi ngạc nhiên hỏi: 

– Để làm gì vậy hả, ông ngoạỉ 

Ngoại cười, noi: 

– Ậy, đừng có hỏi lôi thôi mà. Cứ lấy hai cái nắp nồi ra đây, rồi ngoại chỉ cho cháu cái này ngộ lắm! 

Tôi liền bò vào trong khoang ghe, lấy hai cái nắp bằng nhôm đem ra đưa cho ông. Ngoại tôi cầm hai cái nắp đập vào nhau nghe xèng .. xèng … xèng như người ta đánh chập chỏa múa lân. Chỉ vài phút sau, tôi vừa ngạc nhiên, vừa thích thú thấy một bầy cá nược khoảng chục con từ dưới mặt nước phóng lên, nhào lộn trên mặt nước. Đưa cái lưng đen bóng lưỡng lội chung quanh nghẹ Một vài con tinh nghịch lội sát bên mạn ghe, trên đầu chúng xịt nước có vò lên trên ghe, làm ướt cả vạt áo bà ba của tôị Bầy cá nược xuất hiện trên mặt nước cả 15 phút, rồi lặn xuống sông biến mất. cậu Ba Lượm tiếp tục vung mái chèo, chiếc ghe lướt phăng phăng trên dòng sông Hậụ 

Trên những chiếc cầu tre ba nhịp lắt lẻo, bắc qua những dòng kinh, rạch đã biến thành những dòng sông tự bao giờ, những người nông dân đầu quấn khăn rằn trong những chiếc áo bà ba màu nâu hay đen, vạt áo bay phất phới trong gió chiều thổi lồng lộng, quần thì xăn tới gối, vội vã bước qua cầu để về một nơi nào đó, dưới sức nặng của họ làm cho cầu tre cong oằn xuống, bóng họ lung linh trên dòng nước, phản chiếu ánh nắng chiềụ 

Trên dòng sông, những chiếc ghe tam bản chất đầy hàng hóa hoặc đò dọc chất đầy người lướt nhanh trên dòng sông để về nhà. Ngày đang dần tàn, nhưng chưa tắt hẳn mà con trăng 16 tròn và đỏ ối lừng lững từ rặng cây xanh ven bờ sông nhô lên, nhuộm vàng một quãng sông dài lóng lánh ánh trăng. Tôi thấy rõ dáng những người lái đò đứng đằng sau lái ghe, cúi rạp người xuống, hai tay vung mái chèo, phối hợp nhịp nhàng với đôi chân. Trong cái không gian huyền hoặc đến mơ hồ làm cho vầng trăng càng thêm sáng rực rỡ. Bỗng từ phía sau đuôi ghe của cậu Ba vút lên một điệu hò mái dài, giọng hò tiểu biểu của dân Thốt Nốt. Giọng nam đẩy đưa và trêu chọc làm xốc hông người khác phái: 

"Hò ơ …. nước Long Hồ chảy vô Măng Thít 
Thấy bộ em chèo cái đít muốn ôm." 

Ông ngoại tôi nghe cũng bắt tức cười, ngoái đầu, nói vọng ra đằng sau lái: 

– Thằng dê xồm này nó hò ngạnh trê đó nghẹ Mầy hò chọc quê nó cho tía nghe coi! 

– Được rồi, tía nghe con hò đối lại nè! 

Cậu Ba Lượm giả giọng nữ, lanh lảnh cất lên: 

"Hò ơ … anh muốn ôm vậy mà cũng hơi khó 
Anh về nhà bắt …. chó cái anh ôm. 
Hò ơ … ô rô ba lá ô rô 
Thần Hoàng không vật mấy cô kén chồng. 
Hò ơ … chim quyên đậu nhánh sa kê 
Thiên Lôi không đánh … mấy thằng dê cho rồi!" 

Biết gặp phải đối tượng đốp chát, không phải tay vừạ Anh chàng đổi giọng hò huê tình: 

"Hò ơ … ruộng gò anh cấy lúc nàng thơm 
Ôm anh ôm đại, đừng để anh gò tốn công." 

Cậu Ba Lượm ứng khẩu, hò đối lại, giọng lấp lửng: 

"Hò ơ … ông Tơ bà Nguyệt còn lầm 
Se duyên con gái lấy lầm … sở khanh" 

Anh chàng thanh niên nọ nghe khoái quá, bèn chèo tăng tốc, đuổi riết theo, cập sát ghe cậu Ba, cất giọng hò rao: 

"Hò ơ … người ta vợ con đùm đề 
Thân anh chửa vợ qua thề với em …" 

– Anh Hai chưa vợ hay vợ chưa có chửa đó? Cậu Ba giọng lẳng lơ hỏị 

– Qua còn độc thân, chưa có vợ thiệt mà em. 

– Em chỉ khoái lấy mấy thằng cha đẹp traị 

Cậu Ba kéo cái nón lá sụp xuống, che khuất mặt, hỏi: 

– Anh Hai mà đẹp trai là em ưng liền hà. 

– Qua nói thiệt với em đó nghẹ Người thanh niên đẹp trai nhứt ấp Tây Khánh, xã Mỹ Hòa ở Long Xuyên là qua đây nè! 

Ông ngoại nghe anh chàng nầy quê quán ở xã Mỹ Hòa, nói vọng ra đằng sau lái: 

– Đứa nào quê ở Mỹ Hòa vậy bâỷ Biểu nó chèo ghe lên gặp tía coi nà! 

– Dạ, tía chờ chút. Cậu Ba Lượm nhìn qua ghe anh ta nói: 

– Tía tui muốn gặp anh kia kìạ Chèo ghe lên gặp ổng, lẹ đi cha nộị 

– Ông già tía của em đó hả ? 

– Ừa mà! 

– Để qua gặp ổng, xin gả em cho qua, được không mình? 

Cậu Ba Lượm làm bộ mắc cỡ, mắng yêu: 

– Đồ quỷ sứ nà! 

Hắn ta như mở cờ trong bụng, vung mái chèo chiếc ghe lướt tớị Hắn gác mái chèo lên mui, chấp hai tay xá ông ngoại tôi mấy cái, rồi cười nham nhở, nói: 

– Con rể xin ra mắt nhạc phụ . 

– Được, tía cho nó theo không mầy đó. Khỏi cưới hỏi lôi thôi gì hết. 

Ông ngoại tôi vui vẻ hỏi: 

– Bây nói ở Mỹ Hòa, vậy bây có biết ai sáng chế ra lưỡi câu nổi tiếng nhất xứ Nam Bộ nầy không? 

– Dạ, biết chứ. 

Hắn ra điều kiện: 

– Con mà nói đúng, tía có chịu gả con gái tía cho con không? 

– Ừa, tao hứa đó! 

– Ông Nguyễn văn Tho chớ aị Hắn tự tin hỏi: 

– Đúng không hả nhạc phụ . 

– Đúng y chang là ông tạ 

Ông ngoại tôi gật gù nói: 

– Mấy năm về trước, ổng chuyên môn làm lưỡi câu bán cho dân hạ bạc, sống về nghề giăng câu dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậụ Nhờ lưỡi câu làng Mỹ Hòa mà qua nổi tiếng. Chín Hô là qua đây! 

Hắn há hốc mồm, kinh ngạc nói: 

– Có phải là ông Chín Hô ở vàm sông Ô Môn không? 

Ông ngoại tôi cười sảng khoái, nói: 

– Chín Hô đích thị là qua đây! 

Hắn nhìn đằng sau lái, hỏi: 

– Có phải cô Tư đang chèo ghe không hả, ông Chín? 

Ông ngoại tôi cười ha hả, nói: 

– Thì nó chớ còn ai vô đây nữa! 

Hắn mừng húm, nói: 

– Con nói đúng rồi đó. Tía cho con rước dâu được chứ? 

– Một lời Chín Hô này nói ra, thất mã theo cũng không kịp, đừng nói chi là tứ mã. Được, qua cho bây rước dâu liền bây giờ. 

Ông ngoại tôi đứng dậy, nhìn ra đằng sau lái, nói: 

– Chuẩn bị sang thuyền nghe con. Tía bằng lòng gả con cho thằng nầy rồi đó. 

Cậu Ba Lượm làm bộ vùng vằng, nói: 

– Con hổng dám theo thằng cha nầy về Mỹ Hòa đâụ Thằng chả có vợ một, vợ hai rồi cũng không chừng đó tía ơi! 

– Em Tư đoán không sai! Đẹp trai như qua có vợ một, vơ hai là chuyện thường tình. Hắn cười toe toét nói: 

– Còn em về làm phòng ba cho quạ Lời tía hứa như đinh đóng cột, em không theo qua về Mỹ Hòa là chết với ổng đó! 

– Bộ anh không nghe người ta nói sao hả: "Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm." Cậu Ba hăm he: 

– Tui mà làm vợ ba anh thì chỉ có nước vô chuồng … sư tử mà nằm. 

– Có cô vợ ba trẻ đẹp như em, cho dầu có vô chuồng voi, chưa chắc qua đã ngán, đừng nói chi là chuồng sư tử. 

Hắn chồm mình qua ghe cậu Ba, nắm cái cột chèo ghì lại, hai chiếc ghe cập sát vào nhaụ Hắn cười hì hì, nói: 

– Em Tư dỡ cái nón lá ra, để qua nhìn tạng mặt con sư tử cái coi nà! 

– Muốn coi mắt tui hả ? Được, tui cho coi liền nè. 

Cậu Ba Lượm dỡ nón lá ra , cười chọc quê nói: 

– Cái bản mặt tui đây nè, nhìn kỹ đi cha nội! 

Vừa thấy mặt cậu Ba Lượm, hắn thất kinh hồn vía, kêu trời như bộng: 

– Chời ơi! Chời!… cậu Ba Lượm chơi tui nè chời! … 

Cậu Ba Lượm nạy mái chèo bên phải một cái thật mạnh, hai chiếc ghe tách rời ra, làm anh chàng hụt chân rớt xuống sông, nghe một cái ầm. Ông ngoại tôi khoái chí cười ha hả, nói: 

– Cho đáng đời thằng dê xồm! 


Trăng tròn 16 đang sáng rực rở trên bầu trời cao thăm thẳm và trong vắt, lấp lánh muôn vạn vì saọ Ghe nhẹ nhàng lướt trên dòng sông trăng. Gió đêm mát lạnh thổi lồng lộng, làm những vì sao trời in bóng trên mặt nước vỡ thành những hạt kim cương tỏa ánh sáng lấp loáng trên những đợt sóng gợn nhấp nhộ Ngoại tôi nói: 

– Sắp đến đuôi cồn cù lao Cát rồi đó cháụ 

Tôi nhìn theo hướng ngoại chỉ. Tôi thấy thoáng thoáng những đốm lửa nhỏ như tàn thuốc trôi dần vào nhau, hình dáng những ghe giăng câu đêm với cái mui lợp bằng lá dừa nước lụp xụp hiện rỏ dần trước mắt tôị Rồi những sợi khói mỏng manh màu trắng đục từ những bếp lửa trên ghe tỏa ra, ẻo lả bốc lên bầu trời caọ Sương khói quyện vào nhau trôi lờ lững trên bầu trời đêm. 

Khi gần đến nơi, cậu Ba Lượm lơi dần tay chèọ Bỗng có một người trong chiếc ghe nào đó lên tiếng hỏi: 

– Ai đó? 

Ông ngoại tôi đứng dậy đáp: 

– Chín Hô ở vàm sông Ô Môn đây! 

Người nọ reo lên: 

– Chú Mười Đờn Cò ơi! Ông Chín Hô tới rồi đó! 

Lúc đó vào khoảng 10 giờ đêm. Cậu Ba Lượm gác hai mái chèo lên mui, chiếc ghe lướt nhẹ đến bằng trớn. Một người vói tay chận chiếc ghe cho ngừng hẳn để chú Mười bước quạ Hai ông bạn già mừng rỡ, nắm chặt tay nhaụ Về tuổi tác, ông Mười Đờn Cò nhỏ hơn ông ngoại tôi vài tuổi, nhưng trông rất phong trần với mái tóc bạc, búi tó "si nhong", gương mặc rám nắng và ánh mắt lúc nào cũng đượm buồn. Chiếc áo bà ba màu nâu bằng vải thô cứng, không đủ che vóc dáng gày gò của ông. Với chiếc đờn cò đeo lủng lẳng trên vai, trông ông có vẻ là người nghệ sĩ giang hồ miệt vườn. Ông ngoại tôi nhìn ông Mười Đờn Cò từ đầu đến ngón chân, nói: 

– Lúc này sao chú ốm yếu quá vậy, chú Mườỉ 

Ông Mười cười giả lả, nói: 

– Tui sống lưu linh, lưu địa, giang hồ tứ xứ. Đời như lục bình trôi, vui đâu tấp đó, lấy nghề giăng câu làm kế sinh nhai, lấy ngón đờn cò làm thú tiêu khiển, vừa giúp vui cho dân hạ bạc và anh em thương hồ. Tui sống gằng gạo chợ nước sông, bữa đói bữa no, mập làm sao cho nổi hả, anh Chín? 

Ông ngoại tôi có vẻ không bằng lòng, nói: 

– Đó là lối sống của chú hồi còn trai trẻ kìạ Còn bây giờ, chú đã có tuổi rồi, phải an cư mới lạc nghiệp được, chớ sống bình bồng như lục bình trôi như vậy hoài đâu có được, chú Mười! 

– Vợ con tui bị bọn người sát nhơn nhân danh "Cách Mạng", "Kháng Chiến", "Giải Phóng Dân Tộc" cái con khỉ mẹ gì đó cho đi "mò tôm" hết rồị Cái lối giết người tập thể của bọn Việt Minh ác ôn, còn dã man, rùng rợn gấp ngàn lần bọn Thực dân Pháp giết dân mình. 

Ông Mười Đờn Cò sụt sịt khóc: 

– Sống vô gia cư, tử vô địa táng, giang hồ bạt mạng thì cần gì phải an cư lạc nghiệp hả anh Chín. 

– Mà thôi, thím Mười và hai cháu đã bị bộ đội cụ Hồ giết đã 4 năm rồị Chú có buồn thì thím và cháu cũng không sống lại được đâụ 

Ông Ngoại tôi đề nghị: 

– Sau bữa giỗ tập thể đêm nay, chú phải theo tôi về vàm sông Ô Môn, gia đình tôi có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, chú đừng nghĩ gì hết. Nếu chú ngại, tôi sẽ cho cất một căn nhà riêng cho chú sống thoải máị Chú nghĩ saỏ 

Cậu Ba Lượm đứng đằng sau lái, nghe vậy cũng vọt miệng: 

– Phải đó chú Mườị Cháu sẽ ở với chú cho vuị Nói thiệt nghen, cháu cũng muốn học ngón đờn cò độc chiêu của chú lắm đó! 

Ông ngoại tôi nói vô: 

– Thằng Lượm coi vậy mà sáng dạ lắm! Chẳng lẽ, chú để ngón đờn cò độc chiêu mai một sao, chú Mườỉ 

Ông Mười Đờn Cò suy nghĩ trong giây lát, rồi gật đầu nói: 

– Nếu anh Chín thương tình thì sau bữa giỗ tập thể đêm nay, tui sẽ chèo ghe theo anh về nhà. 

Cậu Ba Lượm hớn hở, nói: 

– Sáng ngày mai, con đi mua vật liệu chở về cất nhà cho chú liền. 

Lúc đó, cậu Ba Lượm và tôi không biê"t giỗ tập thể là cái gì mà làm giỗ cho aị Tôi thấy hàng trăm ghe xuồng từ cù lao Ông Chưởng xuống, từ Đồng Tháp Mười qua, từ Cái Vồn lên … họ tụ tập dưới đuôi cồn cù lao Cát. Tới giờ hành lễ, họ cắm sào san sát vào nhau theo hình một nửa vòng cung. Ông Mười Đờn Cò ngồi trước mũi ghe làm chủ tế. Mọi người yên lặng cầu nguyện cho những người quá cố. Họ thắp nến trong những đèn lồng, mang những lẵng hoa kết bằng đủ loại hoa tạp: màu trắng hoa huệ, màu tím hoa bằng lăng, màu vàng hoa điên điển, màu đỏ hoa hồng … thắp những bó nhang thơm là mỗi tấm lòng của người sống tưởng nhớ những người thân, rồi họ trịnh trọng thả tất cả xuống dòng sông nước đục phù sạ Tôi ngây người nhìn ánh sáng của những ngọn nến trôi bập bềnh, tỏa ra lung linh làm nhạt nhòa những ánh sao trời lấp lánh trên dòng sông. Hương hoa quyện lấy khói hương trầm phảng phất trên sóng nước làm tăng thêm nỗi buồn lai láng trong lòng mọi ngườị 

Ông Mười tháo cây đờn cò đeo trên vai xuống, tỉ mỉ so dây, rồi bắt đầu dạo khúc bi aị Trong cái không gian trang nghiêm và im lặng ấy, tiếng đờn cò réo rắt vang lên như khóc như than. Gió đêm thổi lồng lộng đưa âm thanh của tiếng đàn cò vượt xa hơn, hòa cùng ánh trăng sáng rực rỡ chảy bồng bềnh trên dòng sông. Âm thanh tan dần trên những rặng cây xanh xa xa dọc hai bên bờ sông Hậu; hình như, âm thanh của tiếng đờn cò đọng lại trên những ngọn dừa nước, mù u … và mơ hồ vướng trên đám cỏ lát, phi laụ Cánh tay dài khẳng khiu của ông Mười Đờn Cò cầm vĩ cần đưa qua, kéo lại lúc nhặt lúc khoan, phối hợp nhịp nhàng với mấy ngón tay, móng vàng nhựa thuốc, lướt thoăn thoắt trên mấy sợi dây đờn. Những cái vuốt, móc, nhấn và độ rung của mấy ngón tay điêu luyện của người nghệ sĩ giang hồ làm cường độ của âm thanh thay đổi lúc trầm lúc bổng, thống thiết ai oán làm tê tái lòng ngườị Vài người nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ con … bật khóc nức nở. 

Tôi nghe cậu Ba thì thầm bên tai ông ngoại, hỏi: 

– Họ làm đám giỗ tập thể cho ai vậy tíả 

Ông ngoại nói: 

– Cách đây 4 năm, cũng vào tháng này, ngày nàỵ Lợi dụng mùa nước nổi, bọn Việt Minh cho cán bộ chèo một chiếc ghe lường trọng tải hàng mấy chục tấn lúa để đón đồng bào theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo, sống dọc theo hai bên bờ sông Hậu và cù lao Ông Chưởng chạy lụt. Nửa đêm, họ cho người lặn xuống đục bể ghe, làm cho trên 300 đồng bào vô tội đi "mò tôm", chết thảm khốc tại khúc sông này; vì vậy, họ tụ tập về đây để làm giỗ tập thể cho các nạn nhân hằng năm. 

Tiếng đờn cò truy điệu của ông Mười vừa chấm dứt. Bà con tự động chia tay và hẹn gặp nhau vào thời điểm này năm saụ Tiếng mái chèo khua nước rộn ràng trên một quãng sông Hậụ Những chiếc xuồng ba lá, những chiếc ghe tam bản mang những ánh lửa chập chờn của những ngọn đèn bão trôi trên dòng sông và khuất dần trong màn sương đêm màu trắng đục, bay lãng đãng trên mặt sông. 



Bây giờ chỉ còn lại mươi chiếc ghe và xuồng giăng câu ở miệt cù lao Cát và hai bờ sông Hậụ Họ là những người dân chuyên sống về nghề hạ bạc ở quanh vùng này, vừa là bạn bè, vừa là những người ái mộ tiếng đàn cò độc đáo của ông Mườị Họ cắm sào, mũi chụm đầu vào nhau giữa bốn bề nước nổi mênh mông. Ông Mười chỉ ngoại tôi, rồi lên tiếng: 

– Đêm nay là đêm cuối cùng, tui sẽ từ giả nghề hạ bạc để lên bờ sống với ông anh kết nghĩa của tui là anh Chín Hô đây! 

Ông Sáu Thao là người cao niên nhất, đầu chít khăn rằn, râu cằm bạc trắng, bay phất phơ trước ngực. Ông ta là người đầu tiên lên tiếng: 

– Chèng đéc ơi! Anh Mười nỡ lòng nào bỏ sông, bỏ anh em để lên bờ sống sao hả, anh Mườỉ 

Ông ngoại tôi đỡ lời cho ông Mười Đờn Cò: 

– Chú Mười giờ tuổi đã cao, không vợ, không con, lấy ai chăm sóc khi ươn yếụ Nên vợ chồng tôi rước chú về sống chung với gia đình tôi cho có anh, có em, có muối ăn muối, có mắm ăn mắm. Vả lại, nhà tôi ở gần Vàm Ô Môn, lúc nào cũng mở rộng của đón anh em đến thăm chú Mười mà! 

– Ờ hén, anh Chín Hô nói cũng có tình có lý! Tui xin bái phục tình nghĩa của anh đó nghen. Ông Sáu Thao nhìn mấy người chung quanh, hỏi: 

– Sáng mai, anh Mười Đờn Cò sẽ bỏ dòng sông nầy, để lên bờ sống với gia đình anh Chín Hộ Đêm nay, anh em mình tính sao cho phải phép đâỷ 

Chú Năm Hồng lên tiếng: 

– Đêm nay nhậu xả láng, để sáng tiển chú Mười về vàm sông Ô Môn sớm. Tối mai đi giăng câu kiếm ăn cũng không sao mà. 

Ông Sáu Thao nói: 

– Thằng Năm mấy nói có lý! Tui xin mời hết anh em chèo ghe, xuồng về nhà tui ở trên bãi cồn, nhậu một chầu chia tay với anh Mười cho đã đờị Nhậu không say, không về à nghen! Má xấp nhỏ mới cất được trên 10 lít rượu nếp. Ngon hết xẩy! 

Chú Năm Hồng không đồng ý, nói: 

– Mình là dân giăng câu, sống trôi nổi theo con nước lớn, nước ròng. Bữa tiệc chia tay với chú Mười thì phải nhậu trên ghe mới hợp lý chớ! 

Ông Sáu Thao cười hì hì, hỏi: 

– Rượu đế đâu mà nhậu chớ? 

Ông Mười Đờn Cò cười, nói: 

– Cái rốn trủng Đồng Tháp Mười là nơi kiếm sống của tui và anh Chín Hô đây từ cái hồi khẩ hoang lập ấp. Lúc đó, di dân khắp nơi từ vùng đồng bằng sông Cửu Long cho đến tận vùng đất mũi Cà Mau đến nơi này lập nghiệp. Đồng bào miệt Kinh Cùng có cái lối ẩm thực khác với thiên hạ. Thay vì nhậu rượu đế đưa men cay với khô cá đồng mới hợp với khẩu vị, đằng này họ uống trà với cá khô nướng, thế mới ngược đời với thiên hạ chớ!

– Ừ, chú nhắc tui mới nhớ ông Hai Oảnh. Trời vừa hừng sáng, mới bảnh con mắt dậy là tui đã thấy ổng súc miệng bằng nước trà rồi, điểm tâm với khô cá lóc nướng lửa than. Bạn bè ghé thăm, ổng cũng đãi bạn bè bằng cái lối nhậu lạ đời nàỵ Ông Ngoại tôi nói: 

– Tôi còn nhớ, hồi đó, cũng vào mùa lũ lụt như thế nàỵ Đêm trên đồng nước nổi dàn trải trên khắp cánh đồng bao la như biển nước mênh mông mà lưu dân lúc đó còn thưa thớt. Có khi chèo ghe đi giăng câu cả cây số mới bắt gặp được ánh đèn dầu leo lét xa xạ Lúc đó, họ tự động tìm đến nhau cho đỡ phần vất vả lẻ loi, phải không chú Mườỉ 

Ông Mười Đờn Cò nói: 

– Dân sống bằng nghề giăng câu đêm cũng giống như những mảng lục bình rời rạc, theo con sóng Đồng Tháp trôi tấp vào nhau kết hợp thành giề, để tương trợ lẫn nhau khi hữu sự. Lúc đó, tui đang học ngón đờn cò độc chiêu của ông Hai Oảnh. Cũng trong đêm đó, tui gặp anh Chín rồi kết nghĩa "huynh đệ" với nhau, thủy chung cho đến bây giờ đã mấy chục năm rồi, 

Chú Ba Lượm vọt miệng nói: 

– Chú Mười là sư phụ của cháu, còn ông Hai Oảnh là sư tổ của cháu rồi! 

Ông Mười Đờn Cò nói: 

– Muốn học ngón đờn cò của tao truyền lại cho đời thứ ba là phải làm lễ cúng tổ đàng hoàng nghe con. 

Cậu Ba cười, nói: 

– Chuyện dễ thôi mà, chú Mườị LÚc còn sanh tiền, ông Hai thích món ăn gì nhứt hả, sư phụ? 

– Đơn giản thôi mà. Cũng khô cá đồng nướng nhậu với trà nóng. Nếu là khô cá lóc thì phải là thứ cá lóc bự tổ chảng, còn khô cá sặc thì phải cá sặc rằn lớn hơn bàn tay trở lên. 

Ông Năm Hồng giục: 

– Thôi, nói thì làm liền đi mấy cha nội! Ai có khô thì nướng khô, còn ai có trà thì nấu nước pha trà. Nổi lửa lên đi là vừa đó! 

Vài phút sau, tiếng củi tạp vớt trên sông, củi tre bắt đầu nổ lép bép trong những cái cà ràng đặt đằng sau lái của những chiếc ghe tam bản, được chắn gió bằng những miếng thiếc uốn cong hình vòng cung và ánh lửa lan rộng sáng rực một khoảng sông. Khói trắng đục cuồn cuộn bốc lên mù mịt, tỏa lên bầu trời đêm sáng rực ánh trăng. Khói chảy xuống mặt nước, lẫn vào trong màn sương đêm bay la đà trên sóng nước đang vỗ bì bọp vào mạn ghẹ Mùi khô cá lóc nướng, mùi mỡ cá sặc rằn tươm ra cháy xèo xèo trên lửa than hồng, bay vào mũi làm tôi cảm thấy đói bụng chi lạ . Trong lúc các bậc chú bác ngồi xếp bằng trước mũi ghe, vừa rít thuốc rê, vừa nói huyên thuyên, tiếng cười nổ dòn như bắp rang, tôi bò ra đằng sau lái ghe, thấy cậu Ba đang nướng khô cá khoaị Tôi hỏi: 

– Còn cơm nguội không cậủ 

– Sao, kiến cắn bụng rồi hả? 

– Dạ, con đói bụng. 

– Thôi được, ăn cơm nguội với khô cá khoai nướng cho đỡ đóị 

Cậu Ba trở mấy con cá khô trên lửa than, rồi bới cơm ra cái chén sành đưa cho tôi, nói: 

– Còn mấy miếng dưa mắm của dì Mai trộn sẵn rồi, ăn kèm với khô cá khoai, ngon lắm. Con muốn ăn không? 

Tôi lắc đầụ Cậu Ba gắp mấy con khô cá khoai, xé nhỏ bỏ vào trong dĩa đẩy về phía tôi, nói: 

– Con ngồi đó ăn cơm đị Bây giờ cậu mang khô ra đằng trước cho ông ngoạị Lát nữa cậu trở vộ 

Khô cá khoai nướng quá lửa, nhai dòn rụm, ăn kèm với cơm nguội ngon hết biết. Có lẽ vì bụng đói nên tôi ăn cái gì cũng thấy ngon miệng. Trời nữa đêm về sáng, tôi ngồi dựa cái cột chèo, nhìn mông lung về phía bên kia bờ sông Hậụ Vài căn nhà lá xiêu vẹo ẩn sau những lùm cây, bếp nhà ai giờ này vẫn còn đỏ lửa, những làn khói trắng mong manh đang bốc lên từ những mái tranh nghèo, vươn mình bay lên trên trời cao … gió miệt đồng thổi lồng lộng trên mặt sông làm gợn lên những đợt sóng đủ làm chiếc ghe hơi lắc lự Hơi lạnh của sương đêm hòa cùng hơi lạnh của sông nước tỏa lên ghe làm tôi rùng mình, tôi vội vàng chui vào trong khoang ghe, chun vào trong cái nóp của cậu Ba Lượm đánh giấc. Tiếng những con cóc kèn, ếch nhái, ễnh ương .. kêu vang rền trong bụi phi lau, tiến g vịt trời vỗ cánh trong những rặng bần, mù u xa xa … và tiếng đờn cò độc chiêu của ông Mười như ru tôi vào mộng và tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay … Và khi mở mắt ra thì trời đã sáng bửng, tôi mới biết là đang nằm trên giường, chớ không phải nằm trên ghẹ Tôi lật đật bước xuống giường, nước đã rút đi khỏi cái nền nhà, chỉ còn phù sa phủ một lớp bùn mỏng trên nền gạch tàụ Tôi đi lần ra chái hè, hỏi mẹ tôi: 

– Ông ngoại, cậu Ba và ông Mười Đờn Cò đâu rồi má? 

Má tôi mỉm cười, nói: 

– Cậu Ba đưa ông ngoại và ông Mười về bển rồị Vài bữa nữa, cậu Ba sẽ chèo ghe qua đón má và con qua thăm ông bà ngoại và dì Maị 

Một tuần lễ sau đó, nước lũ đã rút đi, lưu lượng sông Hậu gần như trở lại bình thường. Trường tiểu học mở cửa lại và lũ nhóc chúng tôi nao nức trở lại trường. Tía và má tôi chèo ghe đưa tôi qua sông Hậu sống với ông bà ngoại để tiện việc đi học. Mỗi buổi sáng sớm, dì Mai bơi xuồng đưa tôi đến trường, chiều đón về nhà. Nhờ vậy mà thầy giáo Tiến có dịp quen biết dì Maị 

Mùa nước nổi vừa qua đã làm cái sân đất nhà của ngoại bừa bãi không thể tả, rác rến, bùn đất bê bết khắp nơi, đất đấp chung quanh mấy gốc mai đều bị sạt lở. Vừa dắt tôi bước vào sân nhà, thấy ông ngoại và dì Mai áo quần lấm lem đang lui cui đấp đất lại mấy gốc mai, tía tôi nói: 

– Thôi, tía và dì Tư vô nhà tắm rửa, nghỉ mệt đi, để ngoài nầy con làm chọ 

Ông ngoại nói: 

– Tụi bây và thằng Bảo ăn cơm nước gì chưả 

– Dạ chưa, tụi con có đem cặp gà mái dầu biếu tía má. Tía muốn ăn cháo gà xé phay không để con đi làm. Má tôi quay sang hỏi dì Mai: 

– Má đâu rồi dì Tử 

Dì Mai chỉ ra phía sau vườn, nói: 

– Má đang làm bếp, còn chú Mười và anh Ba đang be bờ cái hồ sen. Cá nuôi trong hồ theo nước lũ đi sạch hết không còn một con. 

– Thôi để chị phụ má làm cơm trưa cho gia đình. 

Tôi chạy lăng xăng trên sân hốt rác gom lại thành một đống lớn để dưới mấy gốc dừa cạnh bờ mương bên hông nhà. Có tía tôi phụ một tay, nhưng không ai chịu vô nhà hết. Thỉnh thoảng, dì Mai ngước nhìn những cành mai khẳng khiu bị gió thổi đong đưa trong nắng sớm làm những chiếc lá úa run rẩy lìa cành. Tôi thấy gương mặt dì Mai thoáng buồn. Thời con gái của dì Mai không lụy vì tình bao giờ mà chỉ lụy vì mai … 

Dân cư sống chung quanh vàm sông Ô Môn, ai cũng biết dì Mai cũng như ông ngoại tôi trồng mai để thưởng ngoạn và để tặng bà con, láng giềng cái lộc đầu năm lấy hên chớ không bao giờ bán. Có nhiều anh trai làng, nhờ những cành "lục hoàng mai" của dì Mai tặng để làm quà cho tía má người yêu mà cưới được vợ. Ông ngoại tôi còn có tài phù phép làm cho những đóa hoa mai chúm chím nụ, từng đợt nở bung ra vào những ngày đầu xuân bằng cách tuốt lá từng đợt, bắt đầu từ sáng 15 đến 23 tháng chạp âm lịch là ngày đưa ông Táo về trờị 

Tía tôi gánh nước dưới mương lên cho ngoại rửa sạch lớp phù sa bám chung quanh hòn non bộ vừa xong là bà ngoại tôi ra sân gọi mọi người rửa tay chân vô nhà ăn cơm. Nhưng, chỉ có dì Mai còn nán lại trên sân, lau các gốc mai cho sạch hết lớp bùn non còn bám trên thân câỵ Tôi nghe bà ngoại phân bua với ông: 

– Ông thiệt có phước hơn tui à nghen. 

Ông ngoại tôi hỏi: 

– Phước gì mới được chớ? 

– Ông thích mai, con Tư nó cũng yêu hoa mai như ông. Vì vậy mà vườn mai ở sân trước của ông lúc nào cũng đẹp hơn ao sen phía sau của tuị 

Bà ngoại nhìn má tôi, tiếp: 

– Tui đặt tên má thằng Bảo là Bạch Liên, hy vọng nó cũng thích hoa sen trắng như tui; nào ngờ, có chỉ thích bông bí, bông điên điển, bông so đũa, bông lục bình … không đời nào nó ngó ngàng tới cái ao sen. Nó chỉ ra đó để thăm chừng bầy cá he vàng lớn chưa đặng vớt lên chiên sù mà thôị 

– Con thấy tía má và dì Mai tối ngày lo chăm sóc mấy cây mai và ao sen là con phát mệt. Hoa với bông cũng một thứ chớ mấỵ Má tôi nhìn bà ngoại cười, rồi hỏi: 

– Má biết lý do tại sao con thích bông bí, bông điên điển, bông so đũa … không nè? 

Dì Mai đang rửa tay, rửa mặt bên cái lu mái giầm bên hông nhà, lên tiếng trả lời thay cho bà ngoại: 

– Bông nào ăn được thì chỉ mới thích. Còn hoa mai, hoa sen ăn đâu có được nên bả đâu có mệ Má cứ nhìn thằng Bảo mập ú na, ú nần thì đủ biết chị Hai có tâm hồn ăn uống như thế nào rồi!! 

Ông ngoại tôi ngó ra ngoài sân, gọi: 

– Mai à, rửa tay lẹ lên đi, rồi vô nhà ăn cơm, kẻo thức ăn nguội hết mất ngon nghen con! 

Trên mâm cơm, ngoại vui vẻ giới thiệu ông Mười Đờn Cò với tía má tôi là thành viên mới trong gia đình. Còn cậu Ba Lượm cũng hớn hở nói: 

– Kể từ bây giờ, chú Mười là sư phụ của con đó nghen. 

Một tuần sau đó, hai thầy trò hì hục cất xong một cái mái nhà lá dừa nước thật khang trang ở góc vườn bên cạnh cây bưởi "năm roi". Ngôi nhà lá vừa đủ kê một bộ ván gỗ mun cho hai người nằm, một bộ ghế trường kỷ kê giữa nhà và một cái tủ bằng gỗ cẩn xà cừ làm bàn thờ cho bà Mười và các con. Bên chái hè là một cái bếp để cho có lệ, chỉ dùng nấu nước tiếp khách. Trên vách có treo hai cây đờn cò, một của ông Mười và một của đệ tử là cậu Ba Lượm. Đêm đêm thầy dẫn trò ra nhà thủy tạ giữa hồ sen dạy đờn. 

Vườn khuya trở nên tĩnh mịch và lặng lẽ. Tôi nghe tiếng thì thầm của côn trùng rỉ rả trong bụi cỏ chung quanh bờ hồ. Tiếng những tàu lá cau khua xào xạc trong gió, tiếng rơi của những tàu lá già lìa cành; thỉnh thoảng, sau tiếng vỗ cánh của bầy dơi quạ vô tình làm cho vài ba quả mận hồng đào rơi bõm xuống hồ. Càng về khuya, những hàng cau già với chùm hoa cau kết thành những chuỗi hột nho nhỏ, xinh xinh màu trắng như sữạ Những nụ hoa lẻ loi nở vội, cánh nở xòe ra mà hương thơm man mác dịu dàng hòa cùng hương sen trắng trong hồ, thoang thoảng tỏa ra một thứ hương thơm mộc mạc, ngan ngát theo cơn gió không mùa len qua khung cửa sổ bay vào trong nhà. Tôi đang chợp mắt, sắp sửa đi vào mộng; bất chợt, tiếng đờn cò kéo "ò e, ò e …" của một tay chơi mới vào nghề, từ phía nhà thủy tạ vang lên từng chập, làm cái lỗ tai như bị ai tra tấn. Tôi vén mùng, bật ngồi dậy, rón rén đi lại cánh cửa sổ, nhìn ra hồ sen. Trên nhà thủy tạ, ông Mười khêu lại ngọn đèn dầu mù u cho thêm ánh sáng, mà ánh mắt không rời mấy ngón tay của cậu Ba Lượm đang di chuyển nhịp nhàng trên cái cần đàn. Sương đêm từ hồ sen bốc lên mịt mù, dầy đặc đến nổi tôi có cảm tưởng cái nhà thủy tạ treo lơ lửng trong sương mù. 



Thế rồi, vài tháng sau đó. Khi nghe tiếng đờn cò độc chiêu cất lên, tôi không còn phân biệt được ông Mười hay cậu Ba nữạ Và sau một thời gian ngắn, tay đờn của cậu Ba Lượm càng trau chuốt và lả lướt hơn. Ông Mười Đờn Cò rất hãnh diện vì có một cậu học trò tài danh như cậu Ba Lượm. Quả thật, có tật có tàị Từ đó, ngón đờn cò của cậu Ba Lượm vang dội hai bên bờ sông Hậu, từ vàm sông Ô Môn đến tận cù lao Cát và bay xuống tận vàm sông Cần Thợ Nhiều cô thôn nữ chết mê chết mệt vì tiếng đờn cò của cậụ Trong số đó, có con gái út xinh đẹp của ông cai tổng Biện ở Trà Nóc. Ông này bắn tin với ông bà ngoại tôị Nếu cậu Ba Lượm đồng ý thì cho người đến mai mối, đang gái sẵn sàng gả con liền với một điều kiện duy nhất là cậu Ba Lượm phải ở rể. Ông bà ngoại tôi có hỏi dọ ý cậu Ba Lượm nhiều lần. Nhưng lần nào cậu Ba vẫn cứ lắc đầu lia lịa, không ưng là không ưng. Ngoại tôi phải nhờ má tôi khuyên cậu Ba đừng bỏ qua mối này rất uổng vì gia đình đàng gái rất bề thế, giàu có, ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Má tôi nói rát cổ họng mà cậu Ba vẫn không nghẹ Cuối cùng, ngoại tôi bực quá, nói với má tôi:

– Thôi kệ nó đi! Nhưng rồi ông suy nghĩ một lát, bất ngờ hỏi: 

– Chắc thằng Lượm nó thương thầm con nào đó rồi cũng không chừng, phải không Haỉ 

– Chuyện này thiệt là khó nóị Má tôi tò mò hỏi: 

– Con muốn biết tại sao khi khổng khi không mà ông cai tổng Biện muốn gả con gái út cho cậu Ba nhà ta vậy tíả Theo con nghĩ, không chừng người ta ăn sò rồi bắt cậu Ba đổ vỏ đó! 

Ngoại tôi suy nghĩ một lát, rồi gật đầu, nói: 

– Con nhận xét cũng có lý lắm! Không chừng là như vậy đó! 

Ông ngoại và má tôi đều đoán đúng có một phần. Chuyện này chỉ có ông Mười và tôi biết lý do tại sao ông cai tổng Biện muốn gả cô út Vui cho cậụ Đó là vì yêu mến ngón đờn cò độc chiêu của cậu Ba Lượm. 

Chuyện là như vầỵ 

Nghe nói hồi còn trẻ, ông cai tổng Lê văn Biện xuất thân là một kép hát tài hoa với cái tên Hữu Danh của đoàn cải lương "Sông Hậu". Năm đó, nghe bầu chở đoàn hát lưu diễn 2 xuất hát cho hội đình Thành Long (Long Tuyền Cổ Miếu) tức đình Bình Thủy cách thị châu than`h Cần Thơ 6 cây số, nhân ngày lễ hội Hạ Điền nhằm ngày 14 và 15 vào tháng 12 âm lịch hàng năm. Năm nào gia đình ông hội đồng Cầu ở Cái Côn đều đến xem biễu diễn văn nghệ . Cô Hai Bạch, con gái lớn của ông hội đồng Cầu phải lòng anh chàng kép trẻ Hữu Danh xuất sắc trong vai võ tướng Lữ Bố đầy hào hùng trong tuồng "Phụng Nghi Đình". Qua đêm sau, trong vở "Phạm Lãi Tây Thi", kép Hữu Danh lại diễn xuất thần trong vai mưu sĩ Phạm Lãi, lôi cuốn đến mức đã làm cho nữ khán giả sụt sùi rơi lệ trong màn biệt Tây Thị 

Sau đêm hát, đào kép cuốn gói xuống ghe bầu, chờ con nước ròng để chèo xuống miết Trà Ôn kiếm ăn. Cô Hai Bạch lẻn xuống ghe bầu, trốn trong đống phong màn, áa mão binh khí ngổn ngang lúc nào mà không ai hay biết. Cho đến khi ghe bầu xuống đến gần miệt Trà Ôn thì bà bầu gánh mới phát hiện được. Cô Hai Bạch thú thiệt với bà bầu là vì thầm thương kép Hữu Danh nên mới bỏ nhà trốn theo đoàn hát. Đám anh em nghệ sĩ hùa theo bà bầu là khi nào đến Trà Ôn thì đuổi cô Hai Bạch lên bờ để tránh tai tiếng cho kép hát đoàn "Sông Hậu" dụ dỗ gái tợ Chỉ có thầy đờn cò là Sáu Niễng, cha nuôi kép Hữu Danh là không đồng ý. Ông nói: 

– Thằng Biện nó chưa vợ, cô nầy cũng chưa có chồng. Tui thấy hai đứa nó cũng xứng đào, xứng kép lắ chớ! Ăn thua thằng Biện, hễ nó thương cô nầy là tui đứng ra hợp tác cho hai đứa nó. 

Ông quay sang kép Hữu Danh, hỏi: 

– Sao, mầy ưng lấy cô nầy làm vợ không, nói cho tía biết ý coi nà? 

Biện ta liếc nhìn cô Hai Bạch, cười tủm tỉm, nói: 

– Thưa tía, con ưng liền! Có một cô vợ đẹp như vầy, cho dầu con có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới nữa! 

– Được, tía sẽ đưa tụi bây về quê nhà tại rạch Xã Chít ở Ngan Dừa để làm lễ tác hợp cho hai đứa bâỵ Tới Trà Ôn thì mình rời đoàn hát đi liền. 

Bà bầu nghe ông thầy đờn cò và kép chánh mà rời đoàn hát "Sông Hậu" chỉ còn có nước rã đám. Bà bầu sợ quá, xuống nước nhỏ, nói: 

– Tui nói chơi thôi mà, anh Sáu! Mình tổ chức đám cưới cho hai đứa nó trên ghe bầu cũng được mà, cần gì phải về quê nhà của anh chớ! 

Đời nghệ sĩ giang hồ lưu diễn trên sông nước, sống bằng gạo chợ nước sông, lấy mui ghe bầu làm sàn diễn tập lưu động, trôi nổi bồng bềnh theo con nước lớn, nước ròng như giề lục bình xanh biếc, nay tấp bến này, mai tấp bến khác giống như số kiếp cầm ca của họ. Từ ngày lấy chồng theo đoàn hát, cô Hai Bạch phụ lo việc "hỏa đầu vụ" cực khổ trăm bề. Sớm khuya hầu hạ mọi người, cơm ngày hai bữa: trưa, chiềụ Đó là chưa kể nồi cháo khuya phục vụ anh em trong đoàn hát khi tấm màn nhung kkép lạị Một đêm mưa gió lạnh lùng, ghe bầu neo trên bến vắng hiu quạnh bên dòng sông Ngã Bảy Phụng Hiệp, trong lúc đào kép quây quần bên ngọn "măng xông" sáng choang đánh tứ sắc hoặc uống trà, cô Hai Bạch mới kéo chồng ra đằng sau lái ghe báo tin mừng là mình đã có thai được 3 tháng, đồng thời thú thiệt với chồng về gia thế của mình. Sau khi biết vợ là con gái của ông hội đồng Cầu, vì mình mà chịu trăm đắng, ngàn cay, kép Hữu Danh bèn quyết định cùng với thầy đờn Sáu Niễng đưa vợ trở về Cái Côn thú tội với ông bà hội đồng Cầu rồi có ra sao thì rạ Kép Hữu Danh tâm sự với vợ: 

– Cùng lắm là ổng bỏ tù anh thôị Sợ gì chớ! 

Kể ra, ông hội đồng Cầu là người cũng rộng lượng. Thấy vợ chồng cô Hai Bạch trở về mà không bắt tộị Đối với ông, việc cô Hai Bạch tự động bỏ nhà theo kép hát là điều điếm nhục gia phong nên ông tuyệt đối cấm con gái và con rể vô nhà. Nhưng, ông bỏ tiền ra mua mười mẫu đất vườn và ruộng ở Trà Nóc, rồi bảo hai vợ chồng về đó lập nghiệp. Ông Sáu Niễng cũng theo hai vợ chồng về Trà Nóc sống. 

Sáu tháng sau, cô Hai Bạch hạ sinh ra cậu con trai đầu lòng khôi ngô tuấu tú. Ông hội đồng Cầu mới đổi giận làm vuị Về sau, cậu này du học ở bên Tây, rồi cưới vợ đầm ở luôn bên đó. Bốn năm sau, cô Út Vui ra đờị Ông bà hội đồng Cầu và sư phụ Sáu Niễng lần lượt qua đờị Và cuộc đời của kép Hữu Danh phất lên như diều gặp gió tạo thêm ruộng đất thẳng cánh cò baỵ Được một cái là kép Hữu Danh không quên cội nguồn của mình, sống bình dân giản dị, tánh tình hào phóng. Ông nổi tiếng một thời là Mạnh Thường Quân của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi khi đồng bào bị thiên tai, bão lụt, mùa màng thất bát … là họ không cần đến chính quyền địa phương mà tự động tìm đến ông để xin giúp đỡ. Ông không ngần ngại xuất kho gạo và bỏ tiền ra cứu trợ làng xã, giúp đồng bào vượt qua khó khăn nhất thời nên bà con gọi đùa ông là cai tổng Biện, riết rồi chết tên luôn. 

Cai tổng Biện là một người rất trọng tình nghĩạ Ông thường nói với mọi người rằng ông có được như ngày hôm nay là nhờ ơn sư phụ Sáu Niễng tận tình nâng đỡ từ khi mới tập tễn bước vào nghề diễn viên sân khấụ Vì vậy, hàng năm đến ngày mùng 10 tháng 5 âm lịch là ngày giỗ sư phụ, ông cai tổng Biện cho người cất sân khấu lộ thiên bên dòng sông Hậu, rồi mời các đoàn diễn tên tuổi về trình diễn cho dân làng xem. Và ngày giỗ của sư phụ thành ngày lễ hội địa phương, dân thương hồ tụ tập về rất đông. Cách đây 5 năm, ông có sáng kiến tổ chức cuộc thi tuyển lựa nhạc sĩ "kéo đờn cò" rất hào hứng. Ông dám tuyên bố với mọi người một câu xanh rờn: "Ai mà chơi đờn cò hay hơn sư phụ Sáu Niễng thì ông gã con gái cho liền". 

Ngày giỗ sư phụ năm đó, ông Mười Đờn Cò dẫn cậu Ba Lượm xuống Trà Nóc thi tàị Tiếng đờn cò "độc cô cầu bại" của cậu Ba Lượm làm cho ai nấy đều ngẩn ngơ bái phục. Ông cai tổng Biện giữ lời hứa ma cô Út Vui cũng vui vẽ đồng ý với chạ Nhưng mà tại cậu Ba không ưng. Chuyện chỉ có vậy thôi! 



Sống với ông bà ngoại tôi được vài tháng, ông Mười Đờn Cò bỗng dưng mang tâm trạng buồn bã. Người ông cứ héo hắt dần như một mảng lục bình trôi sông bị vất lên bờ. Chiều chiều, ông thơ thẩn ra bến sông, ngồi một mình dưới gốc dừa ngó mông lung ra dòng sông. Hôm nào trời trở gió hoặc mưa giông, nước từ vàm sông Ô Môn cuồn cuộn đổ ra sông Hậu, ghe xuồng của ai đó bị gió thổi bạt tay chèo chao nghiêng trên dòng sông, gợi nhớ trong lòng ông những kỷ iệm xa xưạ Những hôm trời trở gió như thế nầy, má thằng Tý chống chèo đằng mũi, ông chèo đằng sau lái, tấp vào con rạch nhỏ tránh sóng. Cả gia đình ông Mười dắt díu nhau sống lênh đênh trên sóng nước, sống nhờ con tôm, con cá mắc vó lưới hoặc mắc lưỡi câụ Không có cù lao nào, con kinh, con rạch ngang dọc nào trên suốt chiều dài con sông Hậu từ cửa Trần Đề và Định An đến sát biên giới Việt Nam-Cam Bốt là điểm hẹn hò của nước sông Tân Châu, kinh Vĩnh An và kinh Vĩnh Tế cùng chảy vào dòng Hậu Giang, mà ông Mười Đờn Cò không biết; thậm chí, ông còn biết rõ độ nong sâu của nó nữạ 

Từ hôm bỏ dòng sông, về nương tựa cho hết tuổi già với ông ngoại tôi, ông Mười tương tư dòng sông với bao nỗi nhớ dăn dặt như một người nghệ sĩ xa rời sân khấu và khán thính giả thân thương. Sân khấu trình diễn của ông là những bãi cồn hiu quạnh mà ánh trăng rằm và những vì sao đêm chiếu sáng lấp lánh trên bầu trời cao thay cho ánh đèn màu trang trí trên sân khấu, còn khán thính giả hâm mộ là những dân thương hồ tứ xứ, dân giăng câu đêm dọc hai bên bờ sông Hậụ Vào những đêm trăng hạ tuần, dòng sông Hậu lặng lẽ chở ánh nguyệt mờ, họ gác ma;i chèo, thả trôi ghe theo con nước chảy lững lờ. Trong không gian tĩnh lặng, sâu thẳm đó, văng vẳng vang lên sáu câu vọng cổ mộc mạc, chân tình quyện lấy âm thanh buồn man mác của tiếng đờn cò làm xao xuyến khách thương hồ dang cắm sào qua đêm trên bến lạ . Vì vậy, sau khi truyền hết những ngón đờn cò tuyệt kỹ cho cậu Ba Lượm danh trấn một phương, ông Mười từ giả mọi người, mang cây đờn cò trên vai, bước xuống ghe tam bản, vung mái chèo tách bến xuôi dòng. Người nghệ sĩ giang hồ đã trở lại cùng dòng sông Hậu và khán thính giả bốn phương … 

Bến nước với cây cầu ván trước nhà ngoại tôi là nơi đón người đến và tiễn người đi, và chưa có cuộc chia ly nào buồn cho bằng ngày ông Mười ra đị Dòng sông bỗng dưng nổi sóng làm xào xạc bờ phi laụ Đứng trên bờ, nhìn chiếc ghe trôi dần xa bến, và những mái chèo vung lên một cách dứt khoát, đánh vỡ từng con sóng bạc đầu để lướt tới một phương trời vô định, cậu Ba Lượm chỉ thở dàị Hình như cậu có cái cảm giác rằng sư phụ sẽ ra đi vĩnh viễn, không trở về bến sông nầy nữa … 



Sau khi ông Mười Đờn Cò đi rồi, gia đình chỉ còn lại 5 người trong căn nhà rộng rãi nàỵ Người được cậu Ba lo lắng nhất là ông bà ngoại, người được chìu chuộng nhất là dì Mai chớ không phải tôị Bận rộn với công việc đồng án hằng ngày, nên ngay cả việc bơi xuồng đưa tôi đến trường cũng khoáng trắng cho dì Maị Cậu Ba đã tạo cơ hội cho thầy giáo Tiến gặp gỡ dì Mai mỗi ngàỵ Nhờ vậy, tình yêu của hai người lớn dần theo con nước lớn, nước ròng mà không ai hay biết gì hết, chỉ trừ có tôị Có lần, tôi tình cờ bắt gặp thầy giáo Tiến nắm lấy bàn tay thon nhỏ của dì Mai đưa lên môi hôn. 

Trong sân trước nhà ngoại, tôi đã nhìn thấy đủ loại hoa mai nở rực rỡ vào mỗi độ xuân về. Ông ngoại và dì Mai đứng tán thưởng vẻ đẹp lộng lẫy kiêu kỳ của lại hoa này hằng giờ mà không biết chán. Nhưng, đối với tôi, loại hoa này hình như vô nghĩạ Tôi chỉ yêu duy nhất mỗi loại hoa mộc mạc, cánh hoa màu tím biêng biếc đơn sơ, sống bềnh bồng theo dòng nước, sáng đầu sông, chiều cuối sông. Vào những ngày nắng chói chang, về đêm hoa tỏa ra mùi hương nồng nàn đến khó thở, đó là hoa lục bình. Hoa chỉ nở rộ vào mùa gió bấc. Không phải chỉ có mình tôi yêu hoa lục bình mà cả dì Mai cũng yêu mê mệt loài hoa này, dì không chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó như tôi mà là để … ăn. Món ăn khoái khẩu nhất của dì Mai là canh chua lục bình nấu với tôm lóng. Để có một nồi canh chua bông lục bình trái mùa, để vui lòng dì, cậu Ba phải vất vả bơi xuồng theo dòng sông Hậu dưới ánh nắng chói mùa hè để ngắt từng bông lục bình. Có khi cậu phải bơi xuồng vô rạch Ca My, rồi vòng qua rạch Ra Rít dài trên cả 10 cây số. Thấy cậu Ba vất vả quá, bà ngoại tôi rầy: 

– Mầy chiều con Tư quá! Nó mà hư là tại mầy đó nghen! 

Có bông lục bình rồi còn phải lo chọn tôm lóng mới có một nồi canh chua thật ngon. Cậu Ba phải bơi xuồng đi tìm đến cái vó lưới bè của ông Hai Mẹo gần vàm sông Ô Môn để mua tôm lóng. Ông Hai Mẹo đã già, không còn đủ sức thức khuya dậy sớm vật lộn với con trâu, cái cày trên đồng ruộng nắng mưa dãi dầu, các con mới làm một cái vó lưới bè cho cha hưởng nhàn, vớt được con tôm, con cá nướng liền tại chỗ, nhậu lai rai cho qua tuổi già. Cái vó lưới bè của ông Hai Mẹo nép mình bên cây đa sà, cành lá xum xuê nên lúc nào cũng mát rượị Cậu Ba Lượm thỉnh thoảng tới đây, ngồi trong lều nghe ông kể chuyện Tàu hoặc chơi đờn cò cho ông nghẹ Cái vó lưới bè đước thiết kế một cách độc đáo, đặt ở một nơi rất yên tĩnh và nên thợ Cái khung cần vó làm bằng tre tầm vong khá kềnh càng. Nhưng, cái lều vó như một cái chòi nhỏ khá tiện nghi, bốn cái cửa sổ lúc nào cũng rộng mở đón gió đồng nội, một cái nóp đôi vừa trải xuống sàn lều làm chiếu để ngồi tiếp bạn bè, vừa chui vào nằm ngủ. Một cái cà ràng dùng để nấu cơm, nấu nước hoặc nướng con tôm, con cá để nhậu lai rai rồi lăn đùng ra ngủ. Vào mùa gió bấc, ngày nào ông cũng lựa tôm lóng còn tươi rói để dành cho cậu Ba Lượm. Có khi ông bơi xuồng mang ra nhà ngoại giao hàng. Có bông lục bình, tôm lóng rồi cũng chưa đủ. Cậu còn phải tìm loại me dốt, chua mà có vị ngọt độc đáo của nó. Đích thân cậu Ba phải lăn vào bếp nấu cho dì Mai thưởng thức. Hôm nào trên mâm cơm có tô canh chua bông lục bình là dì Mai vui hẳn lên mà cậu Ba cũng vui lâỵ 




Giữa tháng chạp, dòng sông Hậu đã lắng đọng phù sa, nước sông trở nên trong trẻo làm tăng thêm cái không khí lành lạnh của gió bấc thổi về vùng đồng bằng. Bông lục bình nở rộ trôi lềnh bềnh trên mặt sông là nhà nhà tất bật chuẩn bị đón Tết Quí Tỵ (1953). Công việc đồng áng đã hoàn tất sau mùa nước nổi, khắp xóm làng hai bên bờ sông Hậu vang vang tiếng chài giã gạo hoặc nếp tốt, nhịp đôi, nhịp ba bịch bình binh … từ sáng đến tốimịt để chuẩn bị quết bánh phồng, bánh tráng. 

Cái không khí Tết đã bắt đầu từ những cội mai trước sân nhà ngoại tôi rồi đó. Cậu Ba phụ với ngoại và dì Mai lo tuốt lá từng đợt, những cánh mai trơ rụi lá, run rẩy đón những ngọn gió bấc thổi về và công việc nầy kéo dài cho đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa ông Táo về tro8`i mới xong. Còn má tôi phụ với bà ngoại lo gói bánh tét. Tết năm đó, có gì thật đặc biệt quan trọng đối với gia đình ngoại tôi, vừa để mừng sinh nhật thứ 18 của dì Mai, vừa mừng dân làng trúng mùạ Dì Mai giờ nổi tiếng đẹp gái nhất nhì tại vàm sông Ô Môn. Ông bà ngoại tôi cưng dì như trứng mỏng. 

Mùng một Tết Nguyên Đán. Sau khi làm lễ cúng gia tiên xong, ông ngoại tôi dẫn tất cả gia đình ra trước sân chiêm ngưỡng "lục hoàng mai" nở tưng bừng chào mừng năm mớị Sáu cánh hoa mai nở xòe ra khoe sắc vàng rực rỡ như mang một hy" tín cho gia đình trong năm mớị Con chó phèn đang nằm trong nhà, gác mỏ lên ngạch cửa nhìn ra sân; bất ngờ, nó đứng dậy, chạy một mạch ra bờ sông sủa ầm ĩ. Nghe tiếng chó sủa, ngoại tôi có vẻ mừng, nói: 

– Chắc chú Mười trở về nhà mình ăn Tết đó. 

Nhưng không phảị Đó là một lão trượng tuổi tác trạc ông ngoại tôi, mặc áo dài, đầu đội khăn đóng, tay cầm cây "ba ton", tướng đi khoan thai đường bệ, râu cằm dài tới ngực, từ dưới bến sông đi lên. Ông ngoại tôi thấy khách lạ viếng nhà, lật đật đẫn gia đình ra đón. Sau cái bắt tay thân mật, ông ta hỏi ngoại tôi: 

– Xin lỗi ông anh. Đây có phải là "Lý Mai Trang" không? 

– Dạ phải! 

Ông ngoại tôi nhìn khách lạ hỏi: 

– Ông anh viếng tệ xá nhơn dịp xuân về, chắc có điều gì dạy bảỏ 

– Không dám! 

Ông ta tự giới thiệu: 

– Tôi là Phán Điệu ở quận Chợ Mới, Long Xuyên. Nghe đồn hoa mai của "Lý Mai Trang" đẹp nhứt vàm sông Ô Môn nên mạn phép tới đây thưởng ngoạn vậy mà! 

Ông ngoại tôi đích thân dẫn ông đi dạo một vòng quanh sân, len lỏI dưới những cội mai, rồi hỏi: 

– Sao, ông thấy hoa mai nhà tôi thế nàỏ 

Ông ta vuốt chùm râu bạc, gật gù khen: 

– Hoa mai của Lý Mai Trang đẹp quá! Quả thật, danh bất hư truyền! 

Ông ngoại tôi nói: 

– Ông thích loại mai nào, để tôi biểu tụi nhỏ biếu ông vài cành, gọi là chút quà mọn. 

Ông Phán Điệu trả lời úp mở: 

– Cám ơn ông anh! Nhà tôi đã có vài cành lục hoàng mai của Lý Mai Trang gởi tặng rồị 

Ngoại tôi ngạc nhiên nói: 

– Ủa, chúng tôi có tặng hoa mai cho ông hồi nào đâu nà? 

– Hình như có đó! 

– Ai vậy cà? 

– Cháu Mai đây chớ ai nữạ Ông ta nhìn dì Mai cười, hỏi luôn: 

– Cháu có nhớ đã tặng hoa mai cho thằng Tiến cách đây vài ngày không? 

Dì Mai trố mắt ngạc nhiên hỏi: 

– Ủa, ông là gì của anh Tiến mà biết hay vậỷ 

Ông nhìn dì Mai thân mật, mỉm cười, nói: 

– Tôi ấy à, cha của thằng Tiến. Nó là thằng con út của tôi đó! 

Ông ngoại tôi trách: 

– Tưởng ai, thì ra là ông thân của cháu Tiến. Vậy mà ông anh không chịu nói sớm cho chúng tôi biết. Thôi, mời anh vào nhà uống nước. 

Ông Phán Điệu không khách sáo, theo mọi người vào nhà. Sau khi phân ngôi chủ khách, ngoại tôi vui vẻ giới thiệu ông với mọi người trong gia đình. Ông ta nhìn dì Mai thật chăm chú và tỏ vẻ rất hài lòng, rồi bất ngờ thân ái, hỏi: 

– Hôm nay là ngày sinh nhật thứ 18 của cháu Mai, phải không cháủ 

Dì Mai ấp úng, khoanh hai tay lại gật đầu, thưa: 

– Dạ! thưa phảị 

Ông Phán Điệu nhìn ông bà ngoại tôi, nói: 

– Gia đình của chúng tôi có một món quà sinh nhựt tặng cháu Maị Mong anh chị cho phép tôi trao cho cháu Maị 

Nói xong, ông vén vạt áo dài, cho tay vào trong túi áo bà ba lụa lèọ lấy ra một cái túi nhỏ bằng nhung đỏ để trên mặt bàn cẩn xà cừ, rồi lấy ra một vòng cẩm thạch màu xanh nổi vân bóng láng. Ông nói với dì Mai: 

– Vòng cẩm thạch nầy là của bà nội thằng Tiến để lại cho mẹ nó. Từ khi mẹ nó qua đời, tôi giữ chiếc vòng cẩm thạch nầy như gia bảo, giờ chú xin trao lại cho cháụ Mong cháu nhận chọ 

Nói là quà sinh nhật, nhưng thật sự theo tôi hiểu, cái vòng cẩm thạch đó là vật sính lễ của đàng traị Dì Mai đưa mắt nhìn ông bà ngoại như thầm hỏi ý. Thấy ông bà ngoại hân hoan gật đầu, dì Mai cám ơn ông, rồi cầm vòng cẩm thạch tự đeo vào tay mình. 

Thế rồi, vào một ngày đẹp trời đầu tháng 6 năm đó, ông bà ngoại tôi làm lễ vui qui cho dì Mai xuất giá theo chồng là thầy Tiến về quận Chợ Mới làm dâu nhà họ Nguyễn. Cái cần ván bến sông nhà ngoại, một lần nữa, lại tiễn người trong gia đình ra đi, mà lần nầy là dì Maị Dì từ giả ông bà ngoại, tía má tôi và cậu Ba Lượm mà hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Thầy giáo Tiến âu yếm nắm tay vợ, dìu dì Mai bước xuống cây cầu ván để lên thuyền hoa xuôi dòng sông Hậu về Chợ Mớị Khi thuyền hoa tách bến, tôi thấy đôi mắt cậu Ba đỏ hoẹ Cậu lấy tay áo lau vội giọt nước mắt mong manh, gượng cười, vẫy tay chào từ giả dì Mai … 




Từ khi dì Mai về nhà chồng, nhà ngoại trống trước trống saụ Má tôi phải nhờ một cô em họ, bà con xa là dì Mận về chăm sóc cho ông bà ngoạị Còn dượng Tiến về dạy tại một trường tiểu học thuộc tỉnh lỵ Long Xuyên. Còn tôi vẫn tiếp tục học lớp nhì trường tiểu học ngoài chợ vàm. Hôm nào trời mưa, dì Mận bơi xuồng đưa tôi đến trường. Ngày nào nắng ráo, tối cuốc bộ đi học rồi xuống đò ngang để qua sông. 

Tội nghiệp cậu Ba Lượm. Trời tờ mờ sáng là cậu đã thức dậy, nấu nước pha trà thay thế cho dì Mai, rồi vác cuốc lặng lẽ ra đồng tới tới mịt mới về. Ngày nào cũng như ngày nấy, cậu sống thui thủi một mình trong căn nhà lá ở góc vườn, cây đờn cò giờ trở thành người bạn tri kỹ. Cậu ôm ấp cây đàn như ôm ấp người tình trong mộng. Những đêm trời mưa gió, ngoại bảo tôi đưa ngoại xuống đó thăm cậụ Trong căn nhà lá tối thui, tối thấy cậu ôm đàn ngồi co ro trên cái chiếu rách, lưng dựa vào cột nhà để bóng tối xoa dịu nỗi thương, nỗi nhớ trong lòng cậụ Ngoại tôi thắp ngọn đèn dầu, khêu lại cái tim đèn cho sáng. Mâm cơm dì Mận mang xuống cho cậu vẫn còn nguyên trên bàn đã lạnh tanh. Nhìn thân hình tiều tụy, gương mặt xanh xao, vàng võ của cậu, ông ngoại tôi ứa nước mắt: 

– Ráng ăn chút đỉnh đi con, rồi lên nhà trên ở với tía má. 

Nhưng cậu Ba chỉ muốn sống cô độc trong căn nhà lá nầy, như để cố quên đi một hình bóng thân yêu, nên chỉ ừ hử cho có lệ. 

Linh tính báo cho ông ngoại tôi biết, chắc chắn có điều gì không ổn. Trời tờ mờ sáng, ông ngoại biểu dì Mận tức tốc chèo ghe vô xã Thới Lai rước sư Tuệ Giác, anh họ của ông ngoại tôi đi tu từ hồi còn trẻ, ra nhà bắt mạch hốt thuốc cho cậụ Sau khi bắt mạch cho cậu xong, sư Tuệ Giác kêu ông bà ngoại tôi lên nhà trên rồi thở dài, nói: 

– Cháu bị tâm bịnh nặng lắm! Nỗi đau khổ vô bờ bến làm cho tim mạch của nó sắp vỡ ra rồị Hơi thở của thằng Lượm giờ mong manh giống như chiếc lá úa sắp lìa cành. 

Ông bà ngoại tôi hốt hoảng, nói: 

– Có cách nào cứu nó được không hả, thầỷ 

Sư Tuệ Giác nói: 

– Từ trước tới giờ, hai người có thấy nó yêu thương người con gái nào không? 

Nghe sư Tuệ Giác hỏi bất ngờ, ông hỏi bà ngoại: 

– Tôi thì không thấy rồi đó. Còn bà thì saỏ 

Bà ngoại tôi cố nhớ một lúc rồi lắc đầu, nói: 

– Chắc nó thương thầm cô nào rồi đó! Tại mình không biết thôi, ông à! 

Sư Tuệ Giác nói: 

– Tâm bệnh của cháu bộc phát từ lúc nàỏ 

Ngoại tôi nói: 

– Hình như từ ngày con Mai xuất giá theo chồng thì phải> 

Bà ngoại tôi ngỡ ngàng, nói: 

– Không lẽ, nó đã thương con Mai nhà mình? 

Sư Tuệ Giác an ủi: 

– Tôi chỉ còn cách nầy, may ra cứu được nó. 

Bà ngoại tôi khẩn trương, hỏi: 

– Cách nào đây hả, thầỷ 

– Nhờ một người nào đó đưa tôi về chùa liền bây giờ. Tôi sẽ hốt bảy thang thuốc "Thập toàn đại bổ" về sắc cho nó uống liền. Uống hết bảy thang thuốc này mà thằng Lượm còn sống, tôi sẽ đưa nó về chùa nương náu bóng từ bi, để cháu tự tìm về cội phúc mà quên đi mối tình oan trái nầỵ 

Đến chiều tối, người lái đò mang thuốc về đến nơị Đích thân bà ngoại tôi sắc thuốc rồi bưng xuống căn nhà lá biểu cậu uống. Cậu Ba miễn cưỡng uống cho vui lòng dưỡng mẫụ Đêm ấy vào cuối tháng 7, bầu trời tối đen như mực, tuôn lên sụt sùi, những giọt mưa ngâu rỉ rả rơi tí tách trên mái lá, rơi trong lòng người làm sống dậy những kỷ niệm đầu đời của cậụ Gió luồn qua khung cửa sổ làm ngọn đèn dầu leo lét chao đảo, cũng đủ sáng cho tôi nhìn thấy những giọt nước mắt nhạt nhòa, ứa ra từ hai hốc mắt sâu hoắm, chảy ngoằn ngoèo trên gương mặt hốc hác của cậụ Nổi tương tư làm lòng cậu héo khô cạn kiệt như ruột bắc khô trong lòng cây sầu đông, đang trút chiếc lá cuối cùng như gởi hết nỗi sầu bay theo cơn gió bấc chớm lạnh mùa đông … 

Thấy tôi khóc thút thít, cậu vuốt đầu tôi, thều thào nói: 

– Khuya rồi, đi lên nhà trên ngủ đi con, kẻo ông bà ngoại trông. 

Tôi không chịu, nói: 

– Cậu cũng lên nhà trên ngủ với con, kể chuyện đời xưa cho con nghẹ 

– Kể từ ngày mai, cậu hứa sẽ từ giã vĩnh viễn căn nhà lá này, lên hầu hạ ông bà ngoại để đền ơn dưỡng dục. Cậu sẽ kể chuyện cổ tích cho con nghe và sẽ bơi xuồng đưa con đến trường như ngày xưạ 

Quá nữa đêm về sáng, cả nhà đang say ngủ, bỗng bị tiếng đàn cò của cậu Ba Lượm trổi lên đánh thức giữa đêm mưa ngâụ Tôi bật ngồi dậy, đứng trên giường, qua khung cửa sổ, tôi nhìn ra nhà thủy tạ trên mặt hồ sen, thấy dáng cậu mờ mờ đang ngồi kéo đàn. Ông bà ngoại vén mùng, bước ra khỏi giường, ngồi trên bộ ghế trường kỹ vừa uống trà, vừa lắng nghe âm thanh ngọt ngào, nỉ non đến thiết tha của tiếng đàn cò, lắng sâu vào trong tận đáy lòng. Ông bà ngoại tôi thả hồn theo tiếng đàn, lúc ngẩn ngơ, lúc trầm mặc suy tư, hình như bị cuốn hút bởi những âm điệu ray rứt như tiếng thở than thay cho lời trần tình của cậụ Những giọt mưa ngâu tháng bảy mang tiếng đàn chảy trên mặt hồ sen, bay lướt trong sương khuya, rồi vỡ tan trên mặt sông buồn. Tiếng đàn nương theo cánh gió bay lên trời, tỏa rộng ra trong không gian lạnh lẽo u ám, trước khi tan biến trong làn mưa ngâu để đọng lại thành những giọt lệ rưng rưng rơi xuống trần gian … 

Ông nói với bà ngoại tôi: 

– Thuốc của sư Tuệ Giác quả là thuốc tiên. Chỉ mới uống có một thang mà thằng Lượm đã nhanh chóng phục hồi sức khỏẹ Tôi chưa bao giờ nghe nó kéo đòn cò hay như đêm naỵ 

Nhưng ngoại ơi! Ngọn đèn sắp cạn dầu đã cháy bùng lên lần cuối cùng trước khi tắt lịm. Sức bật của dây tơ đàn là sức bật của máu hồng từ trong tim nát tan của cậu vỡ rạ Bỗng dưng, tiếng đàn ngưng bặt, đầu cậu gục xuống. Tôi vội vàng nhảy xuống giường, chạy bay ra nhà thủy tạ, ôm chầm lấy cậu Ba Lượm, thân mình cậu mềm nhũn, lạnh ngắt. Tôi hoảng hốt gọi người nhà: 

– Ông ngoại ơi! Cậu Ba Lượm sắp chết rồi! 

Nghe tiếng la thất thanh của tôi, dì Mận đốt đuốc dẫn ông bà ngoại hấp tấp chạy rạ Ngoại tôi dằng lấy người cậu từ trong đôi tay bé bỏng của tôi, rồi ngoại bật khóc tức tưởị Cậu Ba nhướng đôi mắt gần như thất thần nhìn mọi người, thều thào trăn trối lời sau cùng: 

– Tía má ơi! … Đừng khóc nữa, con đau lòng lắm! … Hãy thiêu xác con rồi đem nắm tro tàn rải xuống dòng sông Hậụ Con muốn trở về với cội nguồn của con …. 

Trên mặt hồ, những hoa sen trắng bị tiếng đàn của cậu đánh thức, đua nhau nở rộ, tỏa hương thơm bát ngát như tiễn đưa một linh hồn về cõi hư vô … 

Một tháng saụ 

Khi phù sa sông Hậu từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về. Ông bà ngoại thực hiện lời trăn trối của cậ trước khi từ giã cõi đờị Bình minh vừa ló dạng, tía má tôi chèo ghe tam bản, băng qua con sông Hậu để đến đón gia đình. Sư Tuệ Giác bước xuống ghe tam trước, tôi ôm di ảnh bán thân của cậu theo sau, kế đến là dì Mai ôm chiếc bình sứ đựng nắm tro tàn, ông bà ngoại bước xuống sau cùng. Tía tôi chèo ghe ra giữa vàm sông Ô Môn. Dì Mai đứng trước mũi ghe khóc như mưạ Dì nghiêng chiếc bình sứ trút xuống. Tro tàn hài cốt của cậu theo cớn gió sớm bay tỏa đi khắp nơi, rơi lõa xõa trên dòng sông nâu: cát bụi đã trở về với cát bụi, phù sa đã trở về cùng phù sạ Và tiếng đàn cò lừng danh một thời của cậu Ba Lượm, từ đây đã vĩnh viễn đi vào huyền thoại trên vàm sông Ô Môn … 

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ 

Thảo luận cho bài: "Tiếng Đờn Cò Trên Vàm Sông Ô Môn"