Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

36 – Lời Hậu Luận 


Lời Hậu Luận

Nếu không kể đến những hoàn cảnh đặc biệt đã cho phép tôi mục kích rõ những yếu tố phức tạp của cuộc chiến Việt Nam, và không kể đến những sự may mắn không cùng đã đưa tôi tránh khỏi những nỗi khốn khó mà những người khác đã gặp phải, thì cuộc đời tôi hoàn toàn giống hệt với cuộc đời những người Việt Nam khác trong cùng thế hệ. Những ước mơ, những nguyện vọng, những bất mãn và những thất vọng trong đời sống của tôi quả không khác gì họ.

Những người Việt Nam trong cùng thế hệ tôi chớm hiểu biết vào đầu những thập niên 1940 đã hy vọng rằng sau gần một thế kỷ sống như những công dân hạng nhì trong chính quốc gia của mình, rồi đây họ sẽ có cơ hội để phục hồi lại những niềm tự hào cho bản thân và dành lại được chủ quyền cho dân tộc. Họ cũng mong mỏi một ngày nào đó đất nước sẽ hòa bình để họ và con cháu họ được sống một cuộc sống an lành. Rủi thay, thay vì được độc lập, hòa bình và một đời sống an lành như họ mong mỏi, họ chỉ thấy toàn cách mạng, chiến tranh và tàn phá. Trong suốt ba thập niên, họ bị cuộn vào lớp sóng gió phong ba. Cho đến cả thời gian hiện tại tuy Việt Nam không còn phải đối phó với nạn ngoại xâm nữa mà những nỗi khốn khó của họ vẫn chẳng hề suy giảm. Nỗi khốn khổ của họ thật là một tấn thảm kịch vĩ đại của lịch sử.

Trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên Wal-ter Cronkite vào năm 1963, tổng thống Kennedy phát biểu rằng: “Suy luận kỳ cùng thì đây là chiến tranh của họ [những người Việt Nam] và chính họ sẽ là những người phải tự định đoạt lấy phần thắng, bại.” Có lẽ tất cả những người sống trong thế hệ chúng tôi đều muốn né tránh những trách nhiệm nặng nề của lời bình luận đó, nhưng chúng tôi vẫn chẳng biết làm cách nào để có thể chối bỏ được nhận định của tổng thống Kennedy. Những người dân Miền Nam, nhất là những người lãnh đạo Miền Nam Việt Nam, trong số có cả tôi, phải nhận chịu tất cả mọi trách nhiệm cho số phận của Miền Nam Việt Nam. Quả tình thì khi suy xét lại cuộc đời chúng tôi đã có rất nhiều điều đáng hối hận và đáng hổ thẹn. Nhưng mặt khác, cuộc chiến Việt Nam cũng là một cuộc chiến mang nhiều yếu tố phức tạp nằm ngoài khả năng của chúng tôi nói riêng và vượt quá giới hạn của khả năng con người nói chung. Chính những yếu tố phức tạp đó đã tạo nên những tình cảnh khắc nghiệt và buộc chúng tôi phải xoay sở trong những tình thế khó xử.

Yếu tố đáng kể đầu tiên là sự ngoan cố của Pháp khi họ khăng khăng nhất quyết đòi nắm quyền kiểm soát Việt Nam như một thuộc địa thay vì trao lại chủ quyền đúng lúc cho những phần tử quốc gia đang khao khát đợi chờ ngày độc lập. Yếu tố thứ hai là sự ám ảnh về ý thức hệ của những người cộng sản. Tuy chính quyền thực dân của Pháp đã bị lật đổ rời mà những người lãnh đạo cộng sản ở Việt Nam vẫn nhất quyết phải áp đặt cho bằng được những lý thuyết đấu tranh giai cấp của cộng sản trong toàn cõi Việt Nam. Yếu tố cuối cùng là sự can thiệp ồ ạt của Hoa Kỳ. Ba yếu tố này cùng kết hợp bóp méo những cơ cấu nguyên thủy và quá trình tiến hóa của Việt Nam từ giai đoạn sau thực dân trở đi, khiến cho cuộc đấu tranh của Việt Nam trở thành phức tạp và đẫm máu hơn những cuộc đấu tranh của các quốc gia khác cũng ở trong cùng hoàn cảnh.

Vì bị những giòng giao lưu mãnh liệt của cả ba yếu tố này xô đẩy, những phần tử quốc gia Việt Nam đã rơi vào những tình cảnh vô cùng khắc nghiệt. Trong đa số trường hợp, họ thường bị ép buộc phải chọn một trong những điều khó thể chọn lựa; nói đúng ra thì họ thường chẳng có gì để chọn lựa cả. Khi cuộc sống bị đe dọa, họ bị buộc phải tạm thời chấp nhận những loạt quyết định khó khăn đã làm giảm đi rất nhiều uy tín của họ. Từ biến cố này cho đến biến cố khác -đầu tiên với Pháp, sau đó với Bảo Đại, Ngô Đình Diệm và rồi cuối cùng với Hoa Kỳ và một chính phủ quân nhân. Lúc nào họ cũng loay hoay cố tạo ra vai trò cho chính mình để gây ảnh hưởng. Nhưng lúc nào họ cũng bị xô dạt ra ngoài, và những ảnh hưởng mà họ tạo được chưa bao giờ đủ mạnh để có thể ảnh hưởng đến những diễn tiến của thời cuộc. Ngay trong lúc chiến tranh còn đang tiếp diễn, đã có lúc tôi và nhiều người khác cùng thấy rằng đất nước có cơ hội để xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế. Tuy thế càng lúc những cơ hội ban đầu lại càng mất dần đi và cuối cùng khi Miền Nam Việt Nam phải đương đầu với những cuộc tấn công qui mô của quân đội xâm lăng Bắc Việt được trang bị đầy đủ với súng ống của Nga thì vấn đề còn lại chỉ là chiến đấu để sinh tồn trong một tình cảnh bế tắc không lối thoát. Lúc này, những phần tử quốc gia đã bị buộc phải đấu lưng với những người Việt Nam khác chỉ biết thụ động buông trôi theo số mạng.

Khi nhìn lại tất cả những yếu tố phức tạp bên ngoài đã đưa đẩy cuộc đời chúng tôi thì sự can thiệp của Hoa Kỳ nổi bật rõ rệt hơn cả. Vì rằng chế độ thực dân của Pháp đã suy sụp hoàn toàn và chỉ còn là những chất liệu cho các sử gia tìm tòi, phân tích. Đối với yếu tố cộng sản thì chỉ có những người mù quáng hoặc cuồng tín mới có thể ủng hộ một chế độ khởi đầu bằng chiến tranh, bóc lột và những cuộc tản cư của đại đa số dân chúng. Như thế, nếu đứng trên phương diện lập chính sách mà kể thì trong ba yếu tố quan trọng vừa kể, chỉ còn sự can thiệp của Hoa Kỳ là một vấn đề mà những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ vẫn cần chú ý. Sau khi Hoa Kỳ thất bại ở Việt Nam, họ vẫn còn phải đối phó với những quyết định khó khăn tại các nơi khác. Những câu hỏi đúng, sai và những vấn đề luân lý đi đôi với những câu hỏi này vẫn là những vấn đề Hoa Kỳ hãy còn tranh luận khi họ thiết lập các chính sách ngoại giao. Ngay cả trong thời gian hiện tại, Hoa Kỳ vẫn còn xem xét, học hỏi những bài học rút ra từ sự can thiệp của họ ở Việt Nam và các đồng minh nhỏ hơn ắt hẳn cũng khó tránh khỏi việc nhìn số phận của Việt Nam để có thể tiên liệu những vấn đề họ có thể sẽ phải đối phó.

Nếu đi ngược lại lịch sử cận đại của Hoa Kỳ và bắt đầu nhìn vào những dư luận Hoa Kỳ trong thập niên 1960 thì giới phản chiến ở Hoa Kỳ lúc đó chỉ trích rằng những quyết định can thiệp của Hoa Kỳ vào lúc ban đầu là những quyết định sai lầm, vì thế, như một bình luận gia đã lên tiếng: “Hậu quả [của cuộc chiến Việt Nam] là những chuỗi sai lầm.” Họ cho rằng chính sách can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam sai lầm là vì giới lãnh đạo của thập niên 1960 đã nhận định sai những mục tiêu quyền lợi của Hoa Kỳ. Khi quyết định các chính sách ngoại giao, giới lãnh đạo của thập niên 1960 đã nhận định sai cả tầm mức quan trọng của Việt Nam lẫn khả năng thực sự của Hoa Kỳ.

Tuy việc Hoa Kỳ định nghĩa thế nào là quyền lợi của họ chẳng phải là việc của tôi và cũng thực sự vượt quá khả năng của tôi, tôi vẫn tin rằng những định nghĩa này được đưa ra dựa trên những sự kiện hoàn toàn thực tế. Tôi còn nhớ rất rõ bầu không khí chính trị tại Hoa Kỳ trong mùa hè năm 1964, vào giữa lúc quốc hội Hoa Kỳ đưa ra nghị quyết vịnh Bắc Việt (Tonkin Resolution) và ngay đúng lúc ứng cử viên Barry Goldwater ra ứng cử. Lần đó là lần đầu tiên tôi đến Hoa Kỳ. Vào thời gian đó, toàn thể chánh phủ Johnson và gần như cả quốc hội Hoa Kỳ đều đã đồng lòng ủng hộ lời cam kết bảo vệ Miền Nam (nghị quyết được Thượng viện thông qua với 98% số phiếu và được Hạ viện thông qua với với toàn thể 416 số phiếu). Báo chí khắp nơi cũng tường trình rõ rệt không kém.

Hơn nữa, tình hình quốc tế trong thập niên 1960 còn cho thấy rõ rằng chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với thế giới gần như đồng nhất. Chẳng ai có thể bảo rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam chỉ đơn thuần là do vấn đề Bắc Việt hiếu chiến. Vào những năm Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp, Cộng Sản mới vừa tấn công Đại Hàn và đài phát thanh Trung Hoa đang phát thanh những quan niệm hiếu chiến nhất và bành trướng nhất: Khối Cộng Sản Trung Hoa toan tính hợp tác với tổng thống thiên cộng Sukarno của Nam Dương để thiết lập một khối liên minh cộng sản từ Bắc Kinh qua suốt qua Jakarta. Đối với những quốc gia vừa thoát ách thực dân và mới thiết lập được chánh phủ vào lúc đó tại Đông Nam Á thì những đe dọa của Trung Hoa quả là một đe dọa trầm trọng đáng kể. Tuy 25 năm sau, nhiều người trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã đua nhau chế diễu những đe dọa của Cộng Sản, nhưng trong thập niên 1960 những sự đe dọa của khối Cộng Sản đã khiến chánh phủ Hoa Kỳ lo lắng không cùng. Và nếu nhìn lại tình trạng chính trị vào thời gian đó thì chẳng có gì đáng gọi là phi lý trong quyết định can thiệp của Hoa Kỳ. Sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam, ngay cả trong lúc Hoa Kỳ đổ bộ để can thiệp, dường như cũng chỉ là những phát triển tự nhiên của các chính sách ngoại giao khác của Hoa Kỳ ở Âu Châu (chẳng hạn như Kế Hoạch Marshall, Kế Hoạch Không Vận ở Bá Linh, Hy Lạp) và Á Châu (như ở Đại Hàn). Tất cả những kế hoạch này đều được đặt ra nhằm ngăn chận sự bành trướng của Nga và Tàu (ít nhất thì vào đầu thập niên 1960, chưa ai có thể ngờ rằng về sau Nga và Tàu lại có chuyện xích mích). Đối với những quốc gia đã thành công trong việc xây dựng lại xứ sở và chánh phủ của họ sau thế chiến thứ II như các nước Tây Đức, Hy Lạp và Nam Hàn thì chánh sách can thiệp của Hoa Kỳ thật không có gì lầm lẫn hoặc dựa trên những chánh sách toàn cầu sai lệch. Ở Việt Nam chính sách này thất bại. Nhưng ngay cả sự thất bại ở Việt Nam cũng không phải là những sai lầm trên mặt lý thuyết mà là những sai lầm khi áp dụng. Theo tôi nhận xét thì những nguyên tắc căn bản của chiến thuật ngăn chặn các thế lực cộng sản và bảo vệ các quốc gia dân chủ chẳng có gì sai lầm. Trái lại, tôi cho đây là một điều Hoa Kỳ có thể lấy làm hãnh diện.

Vào thập niên 1960-1970 những người chỉ trích chiến cuộc tàn khốc hơn đã cho rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam không những chỉ là một quyết định sai lầm mà còn là một quyết định không hợp với tiêu chuẩn đạo đức. Phần lớn những chỉ trích của họ đặt lý thuyết trên quan niệm rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến. Do đó, quyết định can thiệp của Hoa Kỳ là một quyết định sai lầm. Họ cho rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ đã ngăn cản những người Việt đang tranh đấu để lật đổ một chế độ áp bức độc tài trong nước. Và rồi họ kết luận rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ đi ngược lại với những nguyện vọng của dân chúng Miền Nam.

Theo tôi thấy thì giả thuyết này đã thu hút được đại đa số dân chúng Hoa Kỳ trong một thời gian dài là vì đây quả là một giả thuyết cho phép những người dân Hoa Kỳ đang bất mãn với xã hội có dịp để bày tỏ sự phẫn khích của họ trực tiếp với chánh phủ của họ. Nhưng trên thực tế thì ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến Việt Nam, cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn đều biết chắc rằng Mặt Trận Giải Phóng là sản phẩm của đảng cộng sản Bắc Việt và nếu không có sự tổ chức, lãnh đạo, tiếp tế và kể từ năm 1964, nếu không có quân đội chính qui Bắc Việt thì chắc chắn đã chẳng có cách mạng hoặc chiến tranh. Một trong những thất vọng lớn nhất của tôi là việc chúng tôi chẳng thể dùng những sự hiểu biết đặc biệt của chúng tôi -bằng vào cả những chứng cớ hiển nhiên lẫn những kinh nghiệm cụ thể của bản thân- để thuyết phục được dư luận Tây Phương. Bất kể sự thật có là gì đi nữa, thì dư luận vẫn chỉ nhìn sự thật qua con mắt riêng của dư luận.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, khi tuyên truyền không còn là vấn đề quan trọng, trung ương đảng ở Hà Nội đã hất bỏ lớp ngụy trang. Trong bài diễn văn nói về chiến thắng 1975, Bí thư của đảng cộng sản Hà Nội là Lê Duẩn tuyên bố: “Đảng là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều khiển toàn thể cuộc đấu tranh của nhân dân Miền Nam kể từ ngày đầu tiên của cuộc cách mạng.” Trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt chưa bao giờ chánh thức công nhận họ có quân đóng tại Miền Nam. (Lê Đức Thọ còn giả vờ che đậy với Kissinger tuy rằng Kissinger đã biết rõ sự thể chẳng kém gì Thọ. Dĩ nhiên, Thọ cũng biết là Kissinger biết rõ mọi sự) Nhưng sau đó, đảng cộng sản vẫn thản nhiên dùng miếng võ lừa phỉnh này trên trường ngoại giao quốc tế. Chẳng những thế, họ còn lấy làm tự đắc đã lợi dụng được sự ngây thơ của thế giới Tây Phương. Năm 1983, trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình Pháp, tướng Võ Ban của Bắc Việt đã tuyên bố: “Vào năm 1959, tôi vinh dự được đảng giao phó sứ mạng tấn công vào Miền Nam để giải phóng và thống nhất đất nước.”

Trong những ngày các phong trào phản chiến đang ở đỉnh cao, tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy những nhân vật lãnh đạo của giới phản chiến lại có thể tin tưởng hoàn toàn những điều Bắc Việt tuyên bố. Ngay cả cho đến bây giờ tôi cũng vẫn còn thắc mắc không hiểu họ có hổ thẹn gì về việc họ đã quá dễ tin và vô tình biến thành đồng lõa của Việt Cộng trong tấn thảm kịch Miền Nam hay không? Nhưng thử hỏi có ai còn giữ tin tức của họ? Và nói cho cùng thì đây chẳng qua cũng chỉ là một giai đoạn đã qua trong cuộc đời họ nói riêng cũng như chỉ là một chương sử của Hoa Kỳ nói chung.

Như thế vấn đề cuối cùng còn sót lại trong câu hỏi “đúng hay sai?” chỉ còn là: Liệu việc Hoa Kỳ can thiệp để ủng hộ cho một chế độ bị coi là tham nhũng và thiếu dân chủ như chế độ của Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản có đúng hay không? Ngay cả tại điểm này, câu trả lời cũng đã quá rõ. Nếu đem so sánh chế độ của Miền Nam với Miền Bắc thì cho dù ông Thiệu có tệ đến độ nào đi chăng nữa, Miền Nam vẫn còn có nhiều triển vọng để thay đổi. Ít ra thì ở Miền Nam người dân cũng còn có thể hy vọng nhìn thấy được tương lai và còn có thể tranh đấu cho những mục tiêu tốt đẹp. Hơn nữa, đã có nhiều chính trị gia, nhiều nhà trí thức cũng như nhiều nhà văn đã từng tranh đấu cho những mục tiêu này. Và nếu nói đến những thể chế của Bắc Việt thì ngoại trừ những lý thuyết gia, có lẽ chẳng ai có thể nghĩ đến việc đem so sánh hơn kém giữa Miền Nam với chế độ khủng bố khiếp hãi của Miền Bắc. Do đó, tôi cũng tin rằng chẳng ai lại đi đặt câu hỏi liệu những nỗ lực bảo vệ Miền Nam có đúng hay không?

Tôi nghĩ rằng những bài học về sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng chẳng dính líu gì nhiều đến vấn đề sách lược toàn cầu hoặc những câu hỏi đúng, sai trên phương diện luân lý và đạo đức. Những sai lầm của Hoa Kỳ nếu có thì phải là những khuyết điểm trong cách can thiệp của họ. Câu hỏi chính không phải là: “Có nên can thiệp hay không?” mà là: “Làm thế nào để can thiệp cho hữu hiệu?”

Trong quyển sách này tôi đã diễn tả khá tường tận những biến cố ở Việt Nam khi chánh phủ Johnson bắt đầu can thiệp. Vấn đề nổi bật nhất trong quá trình mù mờ và phức tạp của việc đổ quân (như ông Bill Bundy đã diễn tả) không phải là do thiếu kế hoạch hay thiếu chiến lược mà là thái độ chủ quan quá mức của Hoa Kỳ đối với đồng minh. Ở những cơ quan tối cao của chánh phủ Hoa Kỳ, chẳng hạn như Bộ Ngoại Giao, và Ngũ Giác Đài, gần như chưa có nhân viên nào xem chánh phủ Miền Nam là một cơ quan xứng đáng để họ cộng tác. Đại đa số những người Hoa Kỳ đến phục vụ ở Việt Nam trong thập niên 1960 đều đến Việt Nam với những lý do gần như không dính líu gì đến Việt Nam. Họ tự nắm lấy cục diện Việt Nam một phần vì nóng lòng với lý tưởng, và một phần khác là vì ngây thơ và chủ quan quá mức. Thái độ này kéo dài mãi cho đến ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Kể từ khi họ bắt đầu can thiệp cho đến khi họ rút khỏi Việt Nam, lúc nào Hoa Kỳ cũng hành động như thể cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến của riêng Hoa Kỳ. Dường như Hoa Kỳ cho rằng nếu Việt Nam có thể giúp sức thì việc tốt nhất mà Việt Nam có thể giúp sức là cứ đứng nguyên, đừng lung lay cục diện để Hoa Kỳ có thể làm việc.

Hậu quả về mặt quân sự của thái độ này là thay vì tìm những giải pháp hữu hiệu và cố giới hạn sự can thiệp của họ ở Việt Nam thì Hoa Kỳ lại tự khoác gánh nặng lên vai. Thực ra thì nếu giới lãnh đạo Việt Nam được tham khảo ý kiến vào năm 1965 thì có lẽ họ sẽ xin Hoa Kỳ đừng can thiệp hoặc chỉ xin Hoa Kỳ can thiệp với những nỗ lực quân sự hết sức giới hạn. Có lẽ họ chỉ xin Hoa Kỳ can thiệp quân sự ở những miền biên giới để có thể ổn định tình hình quân sự và chặn đứng sự xâm lược của Bắc Việt mà thôi. Một hiệp định giữa Hoa Kỳ, Miền Nam và Lào cho phép Hoa Kỳ đóng quân dọc theo vĩ tuyến thứ 17 như một hàng rào để ngăn chận Bắc Việt có lẽ là giải pháp thích hợp nhất vào lúc đó. Khi Hoa Kỳ đã đóng quân ngăn chận tại biên giới, kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh có thể được thi hành để huấn luyện đúng mức quân đội Miền Nam.

Một chiến thuật đơn giản như vậy có thể nào thành công không? Đây là một trong những câu hỏi “Nếu” trong phạm vi chiến cuộc Việt Nam. Đại tá Harry Summers, trong quyển Chiến Lược Luận (On Strategy) đã viết rằng chiến thuật này có thể thành công. Ông cũng kết luận rằng phân cách hai lực lượng Nam Bắc và rồi gia tăng sự huấn luyện cho những đơn vị của quân đội Miền Nam quả là giải pháp can thiệp hữu hiệu nhất của Hoa Kỳ. Dù gì đi nữa thì giải pháp này cũng thể hiện được những mục đích tối đẹp của quân đội Hoa Kỳ như những lực lượng bảo vệ hòa bình và giúp đồng minh Việt Nam thoát khỏi ách xâm lăng. Chiến thuật này cũng sẽ khiến Hoa Kỳ có thể giảm thiểu tổn thất về tài vật, đạn bom và nhân mạng của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam và giúp Hoa Kỳ tránh được những chỉ trích của dư luận thế giới.

Tiếc thay, chính sách can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam lại là một chính sách khác hẳn kế hoạch của đại tá Summers về mặt quân sự. Và nếu nhìn trên phương diện ngoại giao thì chánh sách can thiệp của Hoa Kỳ thường là những chính sách được áp đặt một cách độc đoán bất kể thái độ của đồng minh. Chính thái độ này đã khiến Hoa Kỳ phải hứng lấy cả những hậu quả tai hại về mặt chính trị. Nếu chỉ xét riêng về các chính sách can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam thì có lẽ ai cũng phải thấy ngay rằng chính sách của Hoa Kỳ thiếu liên tục. Trong suốt cuộc chiến, các chính sách của Hoa Kỳ không thúc đẩy đều những tiến triển dân chủ ở Việt Nam. Dĩ nhiên xây dựng một chế độ dân chủ ở Việt Nam là một việc có nhiều triển vọng. Giữa năm 1965 và năm 1967, Việt Nam đã soạn thảo và công nhận hiến pháp, bầu cử tổng thống, phó tổng thống, các nhân viên lập pháp và thành công trong các cuộc bầu cử địa phương. -Tất cả những tiến trình này đều xảy ra vào giữa lúc Việt Nam đang có chiến tranh. Tuy rằng những tiến triển dân chủ ở Việt Nam trong năm 1960 quả là những tiến triển đáng kể nhưng có lẽ nếu những tiến triển dân chủ trong giai đoạn đó không ngẫu nhiên trùng hợp với những mục tiêu của chánh phủ Johnson thì những phong trào dân chủ ở Việt Nam vẫn khó thể thành công.

Rủi thay, những mục tiêu của chính quyền Johnson lại không dược tiếp tục. Khi chính quyền Nixon đưa ra chiêu bài “uyển chuyển” thì những mục tiêu dân chủ ở Việt Nam không còn được chú ý. Vào giai đoạn cuối thập niên 1960-đầu thập niên 1970, Hoa Kỳ chỉ đòi hỏi Sài Gòn chứng tỏ một vẻ mặt ổn định mong manh phía ngoài. Tuy Hoa Kỳ cũng biết rằng phương châm “uyển chuyển” có thể làm những tiến trình dân chủ ở Việt Nam suy nhược, nhưng họ lại không mấy chú tâm về điểm này. Vào năm 1969, ông Kissinger và tổng thống Nixon đã bắt đầu một cuộc cờ phức tạp, vận động ngoại giao giữa các thế lực siêu cường, vận động quân sự và đàm phán bí mật để kéo Hoa Kỳ ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Giữa những biến số chập chồng của bài toán phức tạp này, họ cần phải có một Miền Nam hoàn toàn ổn định, bảo sao nghe vậy. Họ cho rằng nếu ông Thiệu có thể đáp ứng được điều này thì tất cả những hành động khác của ông đều không đáng kể.

Đây là một lỗi lầm trầm trọng đã đưa đến những bất lợi lớn lao cho cả hai chánh phủ Hoa Kỳ và Việt Nam. Thứ nhất, nếu chánh phủ Việt Nam là một chánh phủ tham nhũng và thiếu dân chủ thì quốc hội Hoa Kỳ có thể vin vào đó mà cho rằng Việt Nam không phải là một quốc gia xứng đáng để được Hoa Kỳ ủng hộ. Thứ hai, nếu chánh phủ Việt Nam quả là một chánh phủ tham nhũng thì đại đa số dân chúng Việt Nam sẽ thất vọng và thờ ơ với thời cuộc. Và rồi thay vì chú tâm vào việc xây dựng đất nước thì dân chúng lại chỉ đợi dịp để hưởng ứng các phong trào chống tham nhũng. Trong một buổi nói chuyện tại viện American Enterprise Institute, ông C-harlaes Mohr, một phóng viên kỳ cựu của tờ New York Times tóm tắt gọn ghẽ rằng: “Chúng ta thất bại tại Việt Nam không phải vì chúng ta chưa tận lực làm áp lực với đối phương mà là vì chúng ta chưa tận lực làm áp lực với đồng minh.” Dĩ nhiên, dùng áp lực để đòi hỏi cải cách và dân chủ là một vấn đề cực kỳ khó khăn, nhưng trong trường hợp Hoa Kỳ nắm phần chủ chốt thì các chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ vẫn có thể thành công .

Để có thể thành công trong vai trò này, có hai điều kiện tiên quyết cần phải có trước. Một là cương quyết đưa ra những chủ trương mạnh mẽ đồng nhất. Hai là chấp nhận hậu quả nếu những áp lực của Hoa Kỳ quả thật không có hiệu lực. Hoa Kỳ phải tìm cách nói với ông Ngô Đình Diệm hoặc ông Nguyễn Văn Thiệu, (hoặc ông Ferdinand Marcos hoặc ông Augusto Pinochet), “Chúng tôi không còn cách nào khác ngoài cách phải giữ vững những điều chúng tôi tin tưởng. Nếu vì lý do gì đó, ông không thể đồng ý với những nguyên tắc của chúng tôi thì quả thật chúng tôi chẳng thể làm gì khác hơn là bỏ mặc ông. Với những quyền lực và uy tín lớn lao, Hoa Kỳ không thể cho phép mình khoanh tay trước một nhân vật độc tài yếu hơn. Hoa Kỳ không thể để cho những nhân vật độc tài tin tưởng rằng vai trò của họ quan trọng đến nỗi Hoa Kỳ không thể làm gì khác hơn là phải ủng hộ họ. Nếu Việt Nam có một bài học để dạy thì bài học đó là không ai có thể cứu vớt được những người chẳng đếm xiả gì đến hành vi của họ. Thà là rút lui và chịu tổn thất còn hơn nhắm mắt đầu tư tài nguyên, xương máu và uy tín vào những nhân vật độc tài cầm quyền bất kể dư luận và ý kiến của dân chúng trong quốc gia của họ.

Tại Việt Nam tôi luôn tin tưởng rằng giữa những đoàn thể người Việt đứng đắn khó thể có việc bất đồng ý kiến về những vấn đề như bài trừ tham nhũng, cải cách kinh tế, thay đổi xã hội. Tôi cũng tin là các phương pháp dân chủ có thể được áp dụng tại Miền Nam chẳng khác gì tại những nơi khác. Khi bàn luận về những biến chuyển ngoại giao trong các thập niên ông đã tường trình, ký giả Rosenthal của tờ New York Times đã phát biểu: “Chính sách của chúng ta phải thế nào? Phải phản ảnh những điều chúng ta tin tưởng và tôn trọng. Niềm tin của chúng ta chính là Tự Do Chính Trị. Điều chúng ta tôn trọng cũng chính là Tự Do Chính Trị. Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể đem lại những điều này cho các quốc gia khác. Tuy thế, điều lúc nào chúng ta cũng có thể làm là bảo vệ những điều chúng ta tin tưởng… Việc này đòi hỏi hai yếu tố: Chúng ta phải sáng suốt, nhận định rõ tương lai và tư tưởng của chúng ta phải đồng nhất, trước sau như một. Những người Haiti, Phi Luật Tân, Đại Hàn, A Phú Hãn dường như đã nhận định rõ ràng những gì họ có thể yêu cầu từ chúng ta. Cả những người Tiệp Khắc và Ba Lan cũng vậy.” Ông Rosenthal còn có thể nói thêm: Cả những người Miền Nam Việt Nam cũng thế.

Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy những chính sách như ông Rosenthal đề xướng không phải chỉ là những vấn đề lý tưởng suông. Sau khi Hoa Kỳ đã thất bại ở Việt Nam thì đương nhiên giới lãnh đạo phải đặt câu hỏi: “Đối với những quốc gia bị dư luận Hoa Kỳ chỉ trích thì chánh phủ Hoa Kỳ phải giữ lời cam kết của họ với quốc gia đó tới mức nào?” Câu trả lời của ông Rosenthal còn nêu rõ rằng nếu Hoa Kỳ chỉ lập chánh sách dựa vào sách lược toàn cầu không thôi thì những chính sách đó không thể lâu bền. Vì vậy, trên phương diện ngoại giao, Hoa Kỳ cần phải đòi hỏi những điều kiện dân chủ tiên quyết trước khi cam kết giúp đỡ một quốc gia khác. Những đòi hỏi tiên quyết này không phải chỉ là những đòi hỏi lý tưởng thuần túy mà còn là những yếu tố quan trọng trong thực tế.

Trong những năm 1965-1967, chánh phủ Johnson đã hành động theo đặt căn cơ trên những quan niệm thực tế này. Những chánh quyền khác của Hoa Kỳ thỉnh thoảng cũng có những chính sách tương tự nhưng chưa bao giờ thực sự mạnh mẽ. Nếu nhìn lại lịch sử của Hoa Kỳ ở Việt Nam để tổng kết vấn đề thì sự cam kết của Hoa Kỳ ở Việt Nam chẳng qua vẫn chỉ là một sự cam kết dè dặt, bất nhất và thiếu liên tục. Hoặc nói một cách rõ hơn thì những chánh sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã bỏ qua yếu tố nhân sự. Hoa Kỳ chưa hề coi đồng minh là những người thực sự bình đẳng với họ (tôi không hề có ý muốn nói đến hàng ngàn người Hoa Kỳ đã làm việc vô cùng tận tụy bên cạnh những người Việt Nam). Khi giới lãnh đạo Hoa Kỳ lập chính sách, họ chỉ nghĩ về Việt Nam như một ý niệm trừu tượng của địa lý và chính trị, một yếu tố nằm trong sách lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Điều này hoàn toàn đúng khi Hoa Kỳ tự can thiệp bằng cách đổ bộ vào Miền Nam. Điều này cũng hoàn toàn đúng khi Hoa Kỳ đứng ra lãnh đạo cuộc chiến. Và điều này đúng hơn cả khi Hoa Kỳ từ bỏ chiến cuộc.

Trong tất cả các giai đoạn can thiệp của Hoa Kỳ -Đổ bộ vào Việt Nam, Mỹ Hóa Chiến Tranh, Việt Nam Hóa Chiến Tranh, và sau cùng là rút lui- có lẽ giai đoạn rút lui sẽ ám ảnh người dân Miền Nam lâu nhất. Tuy ai cũng có thể thấy rằng đã có những lỗi lầm lớn lao trong cuộc chiến, nhưng cách Hoa Kỳ rút lui là một lỗi lầm lớn hơn tất cả mọi lỗi lầm khác; đây là một hành động không xứng đáng với một cường quốc lớn như Hoa Kỳ. Đây là một trong những lỗi lầm lớn lao mà sử sách sẽ còn mãi mãi khắc ghi trong khi những lỗi lầm khác chẳng hạn như những lỗi lầm trong chiến thuật Search and Destroy (Truy Lùng và Tiêu Diệt) nếu có còn được ghi chép thì chẳng qua củng chỉ là những chú thích nhỏ nhoi của lịch sử.

Không phải chính vấn đề rút lui là điều đáng hổ thẹn. Hoa Kỳ đã chiến đấu kham khổ và trường kỳ tại Việt Nam, và nếu cuối cùng tình thế bắt buộc Hoa Kỳ phải rút lui thì đây có thể là một tấn thảm kịch nhưng không phải là một điều đáng hổ thẹn. Tuy thế, những vận động chính trị cùng những cung cách tận tuyệt của chánh phủ Hoa Kỳ đối với Miền Nam vào năm cuối cùng trước lúc chiến tranh kết thúc quả là những điều đáng hổ thẹn. Phút giây xoay mặt không phải là những giây phút đẹp đẽ nhất của Hoa Kỳ và có vô số bài học cho cả Hoa Kỳ lẫn các đồng minh khác, nhất là những đồng minh nhỏ nhoi phải lệ thuộc vào Hoa Kỳ để tự vệ như Miền Nam Việt Nam.

Đối với ông Henry Kissinger, người đã tạo ra Hiệp Định Ba Lê, người ta có thể thông cảm về việc ông Kissinger đòi hỏi phải “uyển chuyển” hay nói rõ hơn là nắm thực quyền, khi ông phải đứng giữa điều khiển những đoàn thể khác biệt và ngoan cố (kể cả Bắc Việt, Miền Nam, Nga, Tàu và đôi khi ngay chính tổng thống Hoa Kỳ nữa) cùng hướng chung về một mục tiêu. Nhưng ông Kissinger đã tự khoác vào người một trách nhiệm kinh hoàng: Đàm phán chẳng những cho những sách lược toàn cầu của Hoa Kỳ mà còn cho chính vấn đề sinh tử của Miền Nam. Cả ông Kissinger lẫn tổng thống Nixon đều biết rõ rằng ông Thiệu chẳng thể làm gì nếu không có Hoa Kỳ viện trợ, nhưng họ đã chọn một cách giải quyết dễ dàng cho họ và chẳng kể gì đến đồng minh. Họ đã hoàn toàn giữ bí mật cho tới giây phút cuối và rồi dùng chiến thuật hứa hẹn và đe dọa đối với đồng minh. Thay vì thành thật, họ đã lừa gạt và sau đó đối xử tàn nhẫn với một đồng minh đã đấu lưng cùng họ trong suốt hai mươi năm.

Khi chọn phương pháp “uyển chuyển” tuy có lẽ cả ông Kissinger lẫn tổng thống Nixon đều tin tưởng rằng họ đã đạt được một hiệp định khả quan nhất trong tình trạng ngặt nghèo của khung cảnh đàm phán, nhưng dù sao thì sự lý luận của chính quyền Nixon vẫn chỉ là những cách biện luận cho một vấn đề đại đồng tiểu dị của những chánh sách ngoại giao ở Việt Nam kể từ lúc đầu. Những chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ thường khởi xuất bằng những mục đích đẹp đẽ nhưng lại thiếu hẳn những yếu tố thực tế cần phải có trong khi áp dụng. Khi họ áp dụng những chính sách ngoại giao, Hoa Kỳ thường áp đặt những chính sách của họ bất kể lợi hại ra sao đối với đồng minh.

Quốc hội Hoa Kỳ của những năm 1973, 1974 và 1975 cùng chia xẻ những tội lỗi tương tự khi họ nhẫn tâm phủi tay đối với Việt Nam. Tuy các Thượng Nghị Sĩ cùng các Dân Biểu bàn cãi rất nhiều về uy tín cùng những tiêu chuẩn đạo đức, nhưng thật sự thì họ vẫn quyết định mọi việc dựa trên những sách lược địa lý, chính trị toàn cầu và quyền lợi của riêng Hoa Kỳ. Họ quyết định một cách lạnh lùng, tuyệt tình, bất kể hậu quả đối với một quốc gia với hai mươi triệu dân và họ quyết định như vậy không phải vì xương máu của nhân dân Hoa Kỳ mà là vì một triệu đô la.

“Tại sao một cường quốc lớn như Hoa Kỳ lại có thể làm như vậy?” Đây là một câu hỏi của một người bạn cũ hỏi tôi lúc ở Sài Gòn khi có tin Hoa Kỳ cắt bớt viện trợ vào tháng 8 năm 1974. Người đặt câu hỏi nguyên là bạn cùng lớp với tôi từ ngoài Bắc. Vào năm 1974 thì ông ta đang là chủ một tiệm buôn. Ông ta hỏi tôi: “Ông là đại sứ, có lẽ ông biết rõ những điều này hơn tôi, nhưng ông có thể giải thích thái độ của Hoa Kỳ cho tôi được không? Khi họ muốn đến họ tự tiện đến. Khi họ muốn đi họ tự tiện đi. Chẳng khác nào một người hàng xóm vào nhà mình vung vãi tất cả mọi thứ rồi thình lình bỏ về vì thấy họ sai. Làm sao họ có thể làm những việc lạ đời như vậy?” Đây là một câu hỏi ngây thơ của một người không hiểu biết nhiều. Nhưng tôi thật không trả lời được. Theo tôi nghĩ thì cả ông William Fulbright, lẫn ông McGovern hoặc bất kỳ các nghị viên phản chiến nào khác cũng không thể trả lời được.

Nhưng lỗi lầm không phải hoàn toàn chỉ do những nghị viên phản chiến. Rất nhiều người cho là họ biết sự thật. Những phóng viên -tự cao như bất kỳ nhân vật nào khác- Ông Kissinger, ông Thiệu, Tổng Thống Nixon, và ngay cả tôi nữa. Thật ra, tất cả chúng tôi đều không hề biết rõ sự thật hoặc có biết rõ đi chăng nữa thì cũng không thật sự chú tâm đúng mức. Chúng tôi đã không nhìn thấy sự thực, dĩ nhiên kẻ thù của chúng tôi là những người đã mang lý tưởng sắt máu lại càng không thấy rõ sự thật. Sự thật ở cùng hàng triệu gia đình Việt Nam đang chịu đựng những thống khổ của tấn thảm kịch hãi hùng. Sự thật ở cùng với những người đang chịu đựng tuy họ là những người hiểu biết ít nhất. Sự thật của cuộc chiến Việt Nam đã bị chôn vùi cùng những nạn nhân, cùng những người đã nằm xuống, cùng những người bị xử phải quằn quại trong những bức màn im lặng áp bức từ lúc này và mãi mãi ở những thế hệ sau -một bức màn yên lặng mà thế giới gọi là hòa bình.

“In the Jaws of History” was written by Bùi Diễm with David Chanoff. This book was translated into Vietnamese by Phan Lê Dũng in 1987.

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"