Truyện Kiều (Hồi 17)

Tác giả:

Gác Quan Âm mạo hiểm gặp mặt,
Am Văn Thù thích ý ngâm thơ.
(Câu 1915-2034)

1915. Có cổ thụ, có sơn hồ
Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh.
Tàng tàng trời mới bình minh
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường
Đưa nàng đến trước Phật đường
1920. Tam quy, ngũ giới, cho nàng xuất gia
Áo xanh đổi lấy cà sa
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền
Sớm khuya tính đủ dầu đèn
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà

1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng
Nhân duyên đâu lại còn mong?
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi
Phật tiền thảm lấp sầu vùi
1930. Ngày phò thủ tự, đêm nhồi tâm hương
Cho hay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên
Nâu sồng từ trở màu thuyền
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu

1935. Quan phòng, then nhặt, lưới mau
Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người
Gác kinh, viện sách, đôi nơi
Trong gang tấc, lại gấp mười quan san
Những là ngậm thở nuốt than
1940. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà
Thừa cơ, Sinh mới lẻn ra
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng
Sụt sùi, dở nỗi đoạn tràng
Giọt châu tầm tã đẵm tràng áo xanh

1945. Đã cam chịu bạc với tình
Chúa xuân để tội một mình cho hoa
Thấp cơ, thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời
Vì ta cho luỵ đến người
1950. Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!
Quản chi lên thác xuống ghềnh
Cũng toan sống thác với tình cho xong
Tông đường, chút chửa cam lòng
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai

1955. Thẹn mình đá nát vàng phai
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?
Nàng rằng: Chiếc bách song đào
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may
Chút thân quằn quại vũng lầy
1960. Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa đào
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!
Xót vì cầm đã bén dây
Chẳng trăm năm, cũng một ngày duyên ta

1965. Liệu bài mở cửa cho ra
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!
Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu
Lòng người nham hiểm, biết đâu mà lường
Nữa khi giông tố phũ phàng
1970. Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây
Liệu mà xa chạy cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bây giờ kẻ ngược người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non?

1975. Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ!
Cùng nhau kể lể sau xưa
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời
Mặt trông, tay chẳng nỡ rời
1980. Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa
Nhận ngừng, nuốt tủi, đứng ra
Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào
Cười cười nói nói ngọt ngào
Hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi?

1985. Dối quanh, Sinh mới liệu lời:
Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh.
Khen rằng: Bút pháp đã tinh
So vào với thiếp Lan đình nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ
1990. Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!
Thiền trà cạn nước hồng mai
Thong dong nối gót thư trai cùng về
Nàng càng e lệ ủ ê
Rỉ tai, hỏi lại Hoa tì trước sau
1995. Hoa rằng: Bà đến đã lâu
Rón chân đứng nấp độ đâu nữa giờ

Rành rành kẽ tóc chân tơ
Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương
2000. Nỗi ông vất vả, nỗi nàng thở than
Dặn tôi đứng lại một bên
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu
Đàn bà thế ấy, thấy âu một người!
2005. Ấy mới gan! Ấy mới tài!
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!

Người đâu sâu sắc nước đời
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!
Thực tang bắt được dường này
2010. Máu ghen, ai cũng chau mày nghiến răng
Thế mà im chẳng đãi đằng
Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu
2015. Thân ta, ta phải lo âu
Miệng hùm, nọc rắn, ở đâu chốn này!

Ví chăng chắp cánh cao bay
Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa
Phận bèo bao quản nước sa
2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh
Chỉn e quê khách một mình
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân
2025. Bên mình giắt để hộ thân
Lần nghe canh đã một phần trống ba
Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

Mịt mù dặm cát đồi cây
2030. Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương
Canh khuya thân gái dặm trường
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà

Thảo luận cho bài: "Truyện Kiều (Hồi 17)"

Tìm theo tác giả